Xã Hội - Văn Hóa - Kinh Tế
truongvankhoa | 18 January, 2012 08:12
Một mùa xuân nữa lại đến. Bloger kính chúc tất cả bạn bè, thân hữu và bạn đọc gần xa một năm mới Nhâm Thìn (2012) được sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
NHỚ LA HỐI VỚI CA KHÚC "XUÂN VÀ TUỔI TRẺ"
(Bài viết được đăng trên Giai phẩm Xuân Nhâm Thìn - 2012 của Tạp chí Non Nước - Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Thành phố Đà Nẵng)

Có những khúc xuân ca, khi hát lên, chúng ta lại nôn nao nhớ về kỷ niệm của ngày Tết xưa cũ. Âm nhạc cũng giống như người tình, thường đem lại sự hân hoan, khắc khoải và những hoài niệm khôn nguôi…Hơn 60 năm trôi qua, mỗi độ xuân về, bất cứ ai là người Việt Nam đều không thể nào quên được giai điệu thắm tươi, rạo rực và thiết tha của La Hối trong ca khúc “Xuân và Tuổi trẻ”.
La Hối tên thật là La Doãn Chánh sinh năm 1920 tại Hội An (Quảng Nam) trong một gia đình gốc Quảng Đông (Trung Quốc). Họ La là một đại gia Hoa kiều, đa số lập nghiệp trên đường Rue des Cantonnais (Phố Quảng Đông), sau này đổi tên thành đường Nguyễn Thái Học – Hội An. Phố Nguyễn Thái Học ngày ấy có nhiều nhà buôn nổi tiếng như: La Thiên Thái, La Thiên Ba, La Thiên Hòa, La Ngọc Anh,… Trong dòng họ nổi tiếng này có gia đình La Hoài lập nghiệp và sinh sống ở đường Gia Hội, thành phố Huế.
Từ bé, La Hối là một cậu học sinh chăm chỉ, ngoan ngoãn và xuất sắc ở tất cả các môn học. Đặc biệt, ông có năng khiếu về bộ môn âm nhạc và bắt đầu sáng tác những giai điệu vui tươi, sôi nổi khi mới 14 tuổi. Hai năm sau đó, La Hối rời Hội An vào Sài Gòn (1936-1938) học tiếp văn hóa Trung Hoa ở bậc Cao Trung đồng thời trau dồi thêm âm nhạc cổ điển Tây phương. Ông sử dụng thành thạo guitare, accordéon và piano.
Năm 1939, La Hối quay về Hội An, thành lập Hội yêu Nhạc (Société Philharmonique) do ông làm Hội trưởng. Một số nhạc sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ như Dương Minh Ninh (tác giả ca khúc Gấm vàng), Lê Trọng Nguyễn (tác giả Nắng chiều), Lan Đài (tác giả Chiều tưởng nhớ)... đã từng được ông hướng dẫn trong lĩnh vực hòa âm và sáng tác.
Lúc bấy giờ, Nhật Bản với chủ trương Đại Đông Á đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm chiếm Trung Hoa, Triều Tiên, Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác. Phong trào kháng Nhật nổi lên mạnh mẽ trên cả ba miền đất nước Việt Nam. Với tinh thần nhiệt huyết của tuổi thanh niên, La Hối là lãnh đạo nòng cốt của tổ chức chống phát xít Hội An và các vùng lân cận. Ông là người đứng đầu một nhóm Hoa kiều kháng Nhật tại Việt Nam. Đây là một tổ chức chống phát xít ở hải ngoại, hoạt động tại Hội An và khắp Việt Nam. Nhiệm vụ nhóm của La Hối là theo dõi tình hình chính trị, quân sự và văn hóa Nhật tại địa phương và Việt Nam. Các đồng chí của ông kẻ biểu ngữ, in và phân phát truyền đơn chống Nhật, phá hoại các nơi Nhật đồn trú, phá kho lương thực, đầu độc các con ngựa chiến mà các sĩ quan Nhật Bản cưỡi để thị oai...
Theo nhiều người trong gia đình họ La, trong giai đoạn dạy học, La Hối đã yêu một cô gái dạy dương cầm. Tình yêu nảy nở đã thúc đẩy ông sáng tác một số tình khúc riêng tặng người yêu. Và chỉ có người bạn gái nầy mới lưu giữ đầy đủ nhạc phẩm do La Hối sáng tác. Gia đình họ La chỉ biết và giữ một vài ca khúc của La Hối, trong số nầy có nhạc phẩm với đầu đề bằng Pháp ngữ Le Printemps et la Jeunesse. Được La Hối viết vào năm 1944. Sau này, một người bạn thân Hoa kiều là thi sĩ Diệp Truyền Hoa đặt lời ca bằng Hoa ngữ với tên gọi mới “Thanh Niên Dữ Xuân Thiên”, ngoài bản nhạc này La Hối còn một ca khúc khác là “Xuân sắc quê hương”. La Hối sáng tác rất nhiều nhưng chỉ để lại khoảng 20 tác phẩm. Một số lớn đã bị Hiến binh Nhật tịch thu, một số khác do người tình của ông cất giữ nhưng sau này bị thất lạc. Những tác phẩm của ông đều xoay quanh đề tài tuổi trẻ và học đường, “Xuân & Tuổi trẻ” được viết vào lúc ông bị Nhật theo dõi. Trong hoàn cảnh sinh tử khốc liệt của cuộc chiến nhưng giai điệu trẻ trung của ca khúc này đã đem lại niềm phấn khởi tin yêu cho mọi người vào một ngày mai tươi sáng.
Chiến tranh loạn lạc, cô gái dạy dương cầm mất liên lạc, gia đình họ La không còn cơ hội để ghi chép lại các sáng tác âm nhạc của La Hối. Những tuyệt bản sau này bị thất lạc vĩnh viễn sau khi La Hối mất sớm, ngoài 25 tuổi. Theo một vài cựu đồng chí người Hoa tiết lộ, nhạc sĩ La Hối đã dùng mấy notes nhạc trong phần dạo khúc mở đầu (introduction) của nhạc phẩm “Thanh Niên Dữ Xuân Thiên”: “là là là là, là là là rê, là là là mí, là là là phá, là là là sól, là là là lá, sól mi đô là, sól mi rề” làm một mật hiệu liên lạc tổ chức. Chính vì thế, hiến binh Nhật đã phát hiện và theo dõi toàn bộ những hoạt động của phong trào chống Nhật tại Hội An .
Cuối tháng 3/1945, La Hối và 9 đồng chí bị Nhật bắt. Sau nhiều ngày bị giam cầm và tra tấn dã man, họ đã bị kết án tử hình và vùi lấp chung một huyệt tại chân núi Phước Tường, phía Tây Nam Thành phố Đà Nẵng. Danh sách 10 người bị phát xít Nhật xử chém sáng ngày 1/4/1945 bao gồm: La Doãn Chánh (La Hối), Lâm Kiến Trung, Thái Văn Lễ, Tạ Phúc Khương, Lương Tinh Tiêu, Vương Thanh Tùng, Trình Duy Huấn, Trịnh Yến Xương, Lâm Bình Hoành và Kim Bính Bồi. La Hối hy sinh khi mới 25 tuổi, để lại trong lòng người Hội An sự luyến tiếc một tuổi trẻ tài hoa và tràn đầy lòng yêu nước.
Chiến tranh kết thúc, Nhật đầu hàng quân đồng minh, ngũ bang Trung Hoa Lý Sự Hội tại Hội An đã cải táng 10 vị này tại nghĩa trang Thanh Minh, ngoại ô thành phố Hội An. Họ lập kỷ niệm đài để người dân địa phương, không phân biệt Việt Nam hay Hoa kiều đến viếng mộ các chiến sĩ kháng Nhật.
Năm 1946, đoàn ca vũ Anh Vũ từ Hà Nội đi lưu diễn các tỉnh Trung. Sau khi trình diễn tại Huế, đoàn đã đến Hội An. Thời tiết lúc đó bất lợi, cả miền Trung bị mưa lớn, đoạn quốc lộ từ Đà Nẵng vào Hội An bị ngập lụt. Tuy nhiên, với giúp đỡ tận tình của nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn và một số thanh niên tại Hội An, đoàn văn nghệ vẫn đến được Hội An để trình diễn vở Tục Lụy của nhà văn Khái Hưng do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết nhạc. Đoàn lưu diễn lúc ấy có ông Võ Đức Diên (trưởng đoàn) và các thành viên kyd cựu như thi sĩ Thế Lữ và vợ ( một kịch sĩ có tài), nhạc sĩ Văn Chung, nhạc sĩ Bùi Công Kỳ, nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát và một số ca kịch sĩ nữa tháp tùng.
Khi đến Hội An, các nhạc sĩ của đoàn văn nghệ muốn gặp La Hối nhưng ông không còn nữa. Thương tiếc người nhạc sĩ tài hoa sớm phải hy sinh cho đại nghĩa, thi sĩ Thế Lữ xin phép gia đình họ La đặt lời ca Việt cho nhạc phẩm “Le Printemps et la Jeunesse” (có lời Hoa là “Thanh Niên Dữ Xuân Thiên”) với tên gọi mới “Xuân và Tuổi Trẻ”. Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát soạn hòa âm, nhạc sĩ Văn Chung soạn vũ điệu, Thế Lữ đạo diễn.
Vũ khúc “Xuân và Tuổi Trẻ” do đạo diễn kiêm thi sĩ Thế Lữ được cất lên lần đầu tiên tại nhà hát Phan Hương trên đường Minh Hương , thị xã Hội An. Sau nầy, cũng trên khu đất nầy, hý viện Phi Anh với 1.200 chỗ ngồi, là rạp hát hiện đại của thập niên 50, được xây cất thay thế nhà hát cũ. Tên đường Minh Hương được đổi thành đường Phan Châu Trinh bây giờ.
Trong những năm kháng chiến, “Xuân và Tuổi trẻ” theo chân những người yêu nhạc vào các vùng chiến khu, tận miền Nam và ra tới Việt Bắc. Nhớ thương La Hối, nhạc sĩ La Xuân sáng tác bài Mộng Doãn Chánh để tưởng nhớ La Doãn Chánh tức La Hối. Sau này, ca khúc đổi thành “ Giấc mơ du tử”, người Hội an quen gọi là “Hội An ngày về”.
Với điệu valse, nhịp ¾ đầy sức sống, trẻ trung và yêu đời, “Xuân và Tuổi trẻ” đã đưa chúng ta về một miền đất tươi sáng, đem lại niềm hân hoan cho con người trước mùa xuân mới. Trong thời khắc giao thừa, chúng ta mới thấy hết sự kết hợp tài hoa và lôi cuốn giữa âm điệu và ca từ:
“Ngày thắm tươi bên đời xuân mới.
Lòng đắm say bao nguồn vui sống.
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng.
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng.
Ngày thắm tươi bên đời xuân mới.
Lòng đắm say bao nguồn vui sống.
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng.
Ta muốn luôn luôn cười cùng hoa... ”
Đặc biệt vào đoạn giữa của ca khúc, nhịp điệu nhanh, vội vàng hơn như muốn thúc giục mọi người hãy vui sống, lạc quan và dâng hiến tuổi trẻ và tình yêu cho quê hương đất nước:
“Xuân thắm tươi, én tung bay cao tít trời.
Vui sướng đi, cao tiếng ca mừng vui reo.
Đừng để lòng thổn thức tình mê đắm.
Ta trẻ vui, ta trẻ vui đời xuân thắm tươi.
Vui sướng đi cho đời tươi sáng,
Vui sướng đi cho lòng thêm tươi.
Ta hát ca đón mừng xuân mới.
Ta hát ca cho lòng thêm hăng hái.. ..”
Và chỉ có tuổi trẻ, tuối của mùa xuân mới xây dựng đất nước này trở nên tươi đẹp hơn. Ca khúc như gởi gắm cho thế hệ mai sau hãy sống xứng đáng như những tấm gương của tiền thân, xả thân vì dân tộc
“…Vui sướng đi cho đời tươi sáng,
Vui sướng đi cho lòng thêm tươi,
Ta hát ca đón mừng xuân mới,
Ta hát ca cho lòng thêm hăng hái..”
Bài hát khép lại trong giai điệu thắm tươi, sinh động, nhịp nhàng như mãi lưu giữ một mùa xuân bất tận. Lời xuân ca cứ vang vọng mãi đến ngàn sau…
“…Hát vang lên đời ta thắm tươi.
Tiết xuân huy hoàng muôn sắc hoa.
Tiết xuân êm đềm muôn tiếng ca,
Xuân tưng bừng ... ”
Hơn nữa thế kỷ trôi qua, La Hối không còn nữa nhưng ca khúc “Xuân và Tuổi trẻ” vẫn réo rắt ở khắp mọi miền đất nước mỗi độ xuân về. Bản xuân ca bất hủ vẫn tràn đầy sức sống, đem lại những giây phút hân hoan, thanh bình cho mọi người. Cho dù cô giáo dạy dương cầm ở Hội An ngày ấy lưu lạc phương trời nào nhưng tình yêu của La Hối, người nhạc sĩ tài hoa vẫn còn nguyên hơi thở ngọt ngào quyện cùng lòng yêu quê hương đất nước.
XUÂN VÀ TUỔI TRẺ
(Nhạc La Hối – Lời: Thế Lữ)
Ngày thắm tươi bên đời xuân mới,
Lòng đắm say bao nguồn vui sống.
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng,
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng.
Ngày thắm tươi bên đời xuân mới,
Lòng đắm say bao nguồn vui sống.
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng,
Ta muốn luôn luôn cười với hoa .
Xuân thắm tươi, én tung bay cao tít trời,
Vui sướng đi, cao tiếng ca mừng vui reo
Đừng để lòng thổn thức tình mê đắm
Ta trẻ vui, ta trẻ vui đời xuân thắm tươi
Xuân thắm tươi, én tung bay cao tít trời,
Vui sướng đi, cao tiếng ca mừng reo
Đừng để lòng thổn thức tình mê đắm
Ta trẻ vui, ta trẻ vui đời xuân thắm tươi
Vui sướng đi cho đời tươi sáng,
Vui sướng đi cho lòng thêm tươi,
Ta hát ca đón mừng xuân mới,
Ta hát ca cho lòng thêm hăng hái
Hát vang lên đời ta thắm tươi,
Tiết xuân huy hoàng muôn sắc hoa
Tiết xuân êm đềm muôn tiếng ca
Hát vang hòa lòng thêm hăng hái
Hát vang lên đời ta thắm tươi,
Tiết xuân huy hoàng muôn sắc hoa
Tiết xuân êm đềm muôn tiếng ca,
Xuân tưng bừng
truongvankhoa | 13 January, 2012 09:53

“Lãi khủng” là từ được các cơ quan truyền thông nhắc đến khi nói về hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại. Có người nói, việc công bố lợi nhuận vào cuối năm là chiêu PR (Publish Relation) của nhà băng. Có kẻ phân tích rằng, những động thái như vậy là minh bạch hóa tài chính giúp cho người dân tạo dựng niềm tin vào hệ thống tài chính vốn được coi là huyết mạch của nền kinh tế.
Dù sao đi nữa, những thông tin về lợi nhuận trong giai đoạn khó khăn như thế này có thể gây phản cảm, ít nhất đối với những doanh nghiệp đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn. Câu chuyện thưởng Tết cho nhân viên ngân hàng bằng mười mấy tháng lương trở nên điều “hoang tưởng” trong mắt người công nhân đang mòn mỏi ngóng chờ những đồng lương eo hẹp vào những ngày giáp Tết. Chúng ta đang hướng đến một xã hội bình đẳng, đó là sự công bằng về các cơ hội hoặc lợi ích đối với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm trong xã hội. Trong xu thế đó, các chính sách của Nhà nước phải kịp thời điều chỉnh nhằm bảo đảm lợi ích cho những đối tượng yếu thế, thiệt thòi trong quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa rằng cơ chế phân phối thu nhập theo thị trường và phi thị trường ngày phải được hoàn thiện hơn.
Mặc dù chỉ chiếm 5% số lượng nhưng 50.000 doanh nghiệp phá sản và ngưng hoạt động trong 9 tháng (số liệu do Bộ KH & ĐT công bố) đã thật sự gây “sốc” cho dân chúng và những người điều hành kinh tế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trang trên nếu chúng ta phân tích một cách đầy đủ và chi tiết trên bình diện vĩ mô và vi mô của nền kinh tế. Tuy nhiên, điều người ta quan tâm nhất là lãi vay ngân hàng đã vượt sức chịu đựng của các doanh nghiệp trong một thời gian dài.
Ngân hàng lãi lớn, các doanh nghiệp lỗ hoặc hòa vốn. Đó là nghịch lý của nền kinh tế. Ngân hàng huy động 14% nhưng cho vay ra từ 19%- 21%/năm, mức chênh lệch quá lớn từ 5 đến 7% đã tạo một “hố thẳm” không đáng có giữa doanh nghiệp và ngân hàng. Một bộ phận kinh tế đạt đến đỉnh cao của lợi nhuận trong khi các thành phần kinh tế khác suy thoái, thua lỗ là khiếm khuyết của nền kinh tế. Dưới một góc nhìn khác, việc công bố “lãi khủng” của ngân hàng trong điều kiện hiện nay sẽ trở nên “khập khiễng” trong chiến lược phát triễn toàn diện của Đảng và Nhà nước. Sự phân hóa giàu nghèo trong kinh doanh tất yếu sẽ xảy ra nhưng để cả hai cùng hưởng lợi, cùng chiến thắng theo triết lý “win-win” là phương án tối ưu nhất, đặc biệt trong khi nền kinh tế chưa có dấu hiệu phục hồi. Nói một cách khác, lợi ích của các ngành kinh tế phải được xử lý một cách hài hòa bởi các chính sách tiền tệ hợp lý của Chính phủ.
Có thể nói rằng, mọi khó khăn của nền kinh tế, chính sách thắt chặt tiền tệ và gánh nặng lãi suất trong năm qua đã đổ dồn lên đôi vai của doanh nghiệp. Việc áp dụng biện pháp hành chính trần lãi suất đầu vào nhưng không áp dụng cho đầu ra càng khiến các ngân hàng có điều kiện nâng cao tỉ suất biên lợi nhuận cho hoạt động tín dụng của mình (chênh lệch giữa lãi suất đầu vào và đầu ra). Chính vì vậy, lợi nhuận cao “ngất ngưỡng” hàng ngàn tỉ đồng của các ngân hàng bên cạnh sự thua lỗ của các doanh nghiệp là điều dễ hiểu.
Đã từ lâu doanh nghiệp được coi là những khách hàng chung thủy, luôn có nhau trong hoạt động kinh doanh. Phồn thịnh của doanh nghiệp chính là sự thành công của ngân hàng. Mặc dù đã mở rộng các hoạt động dịch vụ, tư vấn nhưng thu nhập của ngân hàng hiện nay chủ yếu từ lãi vay. Tỉ lệ thu tín dụng trên bảng cân đối ngân hàng chiếm từ 70 đến 80% tổng thu nhập. Nói thế để thấy rằng, nguồn thu của ngân hàng phần lớn đến từ khách hàng là các doanh nghiệp. Thế nhưng, trong lúc này, các ngân hàng không những không chia sẽ khó khăn bằng mức lãi suất thấp mà còn tiếp tục mức lãi suất cao vào những tháng cuối năm nhằm tìm kiếm mức “lợi nhuận khủng”. Cách hành xử mang tính “ích kỷ tập thể” này đã đi ngược lại lý thuyết cộng sinh trong quan hệ kinh tế. Một chủ thể kinh tế mất đi sẽ ảnh hưởng đến sự tồn tại của chủ thể kinh tế khác, doanh nghiệp yếu kém, đổ bể dây chuyền sẽ tác động mạnh đến sức khỏe của ngân hàng.
Một câu hỏi được đặt ra, nếu doanh nghiệp kinh doanh không đủ để thanh toán nợ nần, các ngân hàng liệu có thể tồn tại trong bao lâu nữa ? Và như thế, câu chuyện “trẫm chết, chúa cũng băng hà” là điều không thể tránh khỏi. Vì lợi ích của toàn xã hội, không có nào khác là các ngân hàng phải chia sẽ lợi nhuận bằng cách nhanh chóng hạ lãi suất cho vay về điểm hợp lý nhất để vực dậy nền kinh tế theo chủ trương của Chính phủ.
truongvankhoa | 12 January, 2012 15:19

Theo thống kê của Hội thẻ ngân hàng, đến nay đã có 5 vụ ăn cắp thông tin bị phát hiện. Số thẻ bị nghi ngờ mất thông tin là 470 và giá trị tổn thất là 300 triệu đồng. Đình đám nhất là tội phạm thẻ đã sử dụng công nghệ cao trộm cắp thông tin của chủ thẻ Visa và Master để mua vé máy bay của hãng hàng không Việt Nam (VNA) với số tiền lên đến hàng tỉ đồng. Cuối năm 2011, tòa án nhân dân HCM đã tuyên phạt Mạch Hữu Tài (25 tuổi) mức án 10 năm tù về tội "trộm cắp tài sản" và đồng bọn. Theo cáo trạng, Tài và các bị cáo đã tìm kiếm và ăn cắp thông thẻ tín dụng của một người người nước ngoài để thực hiện đặt mua vé máy bay của các hãng hàng không qua mạng. Chỉ trong thời gian ngắn, băng nhóm này đã mua gần 250 vé trị giá hơn một tỷ đồng. Sau đó , nhóm thanh niên này rao bán lại với giá chỉ bằng một nửa hoặc tặng cho người thân, bạn bè đi du lịch.
Những vụ việc nêu trên chỉ một mảng tối đã lộ diện khi mà các thủ đoạn đánh cắp tiền qua tài khoản thẻ ngày càng tinh vi và xảo quyệt. Tuy nhiên, với trình độ công nghệ cao, kinh nghiệm và sự phối hợp chặt chẽ giữa Bộ công an và ngành ngân hàng, những “chiêu thức” của tội phạm thẻ sẽ bị lôi ra ánh sáng.
Ngoài ra, tội phạm thẻ còn dùng thiết bị MP3 để ghi lại âm thanh bấm phím (giống âm thanh phát ra từ máy fax) tại máy rút tiền đặt ở những địa điểm không được bảo vệ nghiêm ngặt. Dữ liệu này sau đó được chuyển thành các dãy số nhờ phần mềm giải mã. Một tên tội phạm ở Anh đã sử dụng thiết bị này và ăn trộm trót lọt tới gần 400.000 USD.
Các ngân hàng tham gia thanh toán mạng ATM cho biết, cách lấy thông tin thẻ tại Việt Nam không mới nhưng thời gian gần đây đã rộ lên và trở thành phổ biến. Các cơ quan chức năng cho biết, thiết bị để lấy trộm thông tin thẻ ATM hiện được bán rất nhiều ở các nước Trung Quốc, Mailaisia, Thái Lan,…Cách sử dụng các thiết bị này chưa phổ biến nên đa số tội phạm này là người nước ngoài đến từ các nước thuộc Châu Á.
Khi các chiêu thức bị chặn, kẻ cắp không còn cách nào khác là phải dùng phương pháp thủ công như: Cẩu máy ATM, đập phá, khoan, cắt,… để lấy tiền. Nói thế để thấy rằng, tội phạm ngày càng táo tợn và không trừ bất cứ một thủ đoạn nào.
Trước tình hình tội phạm ngày càng gia tăng, thủ đoạn ăn cắp tinh vị, sử dụng công nghệ cao, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã khẩn trương phối hợp Bộ Công an tăng cường an ninh, an toàn và chất lượng dịch vụ ATM. Các ngân hàng thương mại đã triển khai rất nhiều các biên pháp nhằm ngăn ngừa tội phạm và bảo vệ khách hàng khi sử dụng các dịch vụ rút tiền ATM, thanh toán thẻ qua máy POS, mua sắm hàng trên mạng (online). Thế nhưng để đảm bảo an toàn khi sử dụng các loại dịch vụ này, tốt hơn hết là chủ thẻ nên tự bảo vệ mình từ những thông tin cảnh báo của các ngân hàng phát hành thẻ.
Một vấn đề quan tâm hơn nữa là chủ thẻ phải tuyệt đối cẩn trọng việc khai báo các thông tin cá nhân khi giao dịch thanh toán trên các các trang web mua bán. Hãy chọn những trang web đảm bảo, uy tín để giao dịch. Khi mua hàng, chủ thẻ nên yêu cầu nơi cung cấp hàng hóa gửi email xác nhận hoặc xác nhận qua điện thoại về giao dịch vừa diễn ra để đảm bảo chắc chắn không phát sinh giao dịch khác ngoài hóa đơn đã thanh toán. Đăng ký và sử dụng dịch vụ SMS Banking (nhắn tin) để khi tài khoản có biến động là cách “phòng thủ” tốt nhất để phát hiện kịp thời những biến động kịp thời khi xảy ra sự cố. Đó khuyến cáo của những ngân hàng phát hành thẻ trong quá trình thanh toán qua mạng.
Bên cạnh những rủi ro từ tội phạm bên ngoài, các ngân hàng cũng đang đối mặt với thực trạng “nuôi ong tay áo”. Đó là những cán bộ ngân hàng biến chất, suy thoái đạo đức, họ có thể lợi dung các dữ liệu trong ngân hàng, cấu kết với tội phạm bên ngoài để thực hiện những phi vụ ăn cắp tiền từ khách hàng. Một lãnh đạo ngân hàng thương mại bộc bạch, kiểu ăn cắp tài khoản đáng lo thật, nhưng nó là cái bên ngoài và được cảnh báo thường xuyên. Thường thì người ta hay đề phòng kẻ gian chứ chẳng ai ngờ tới những người thân ngay quanh mình. Rủi ro từ đạo đức nghề nghiệp của một số nhân viên ngân hàng mới vô cùng nguy hiểm.
Rủi ro trong thanh toán cũng như nghiệp vụ thẻ ngày càng đa dạng, lan rộng và vượt khỏi tầm kiểm soát của một quốc gia. Chính vì thế, trong bất cứ một nghiệp vụ nào, ngân hàng, cơ quan chức năng và cả khách hàng đều phải phối hợp đồng bộ, tạo niềm tin lẫn nhau để sử dụng ngày càng tốt hơn các tiện ích của một ngân hàng hiện đại và văn minh.
truongvankhoa | 12 January, 2012 15:00

Hiệp hội Thép Việt Nam (VSA) cho biết, sản xuất thép năm 2011 có mức tăng trưởng âm từ 10-12% so với năm 2010. Lượng tiêu thụ giảm mạnh, tồn kho lớn, nợ vay chồng chất , các doanh nghiệp thép đang đối mặt với thua lỗ và đứng trước nguy cơ bị phá sản.
NHỮNG NHÀ MÁY THÉP ĐANG “ẨN MÌNH CHỜ CHẾT”.

Bất động sản đóng băng, lượng thép tiêu thụ giảm nên tồn kho thép tại Việt Nam khá lớn. Một số doanh nghiệp đã xác nhận, tồn kho thép hiện nay có thể tăng gấp đôi so với năm trước. Theo Hiệp hội thép Việt Nam (VSA), trong quý 3/2011 vừa qua, sản lượng thép tiêu thụ tiếp tục giảm mạnh khiến lượng hàng tồn kho tăng lên. Cụ thể, trong tháng 8, sản lượng tiêu thụ 480.000 tấn, nhưng tháng 10 giảm xuống còn khoảng 300.000 tấn, vì vậy lượng tồn kho tăng lên gần 500.000 tấn, gấp đôi so với lượng tồn kho thông thường. Tính đến hết tháng 11 tồn kho lên đến 365.000 tấn, trong khi mức tồn kho bình quân hàng năm chỉ khoảng 250.000 tấn.
Hai thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam là Nhật Bản và Trung Quốc tiếp tục giảm giá thép xây dựng nên trong nước xảy ra hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh. Một số doanh nghiệp bán phá giá để “đẩy hàng”, nhiều đơn vị đã chào giá thấp hơn thị trường từ 200 - 300 nghìn đồng/tấn. Năm 2011, Hiệp hội thép Việt Nam dự báo công suất thép cán cả nước đạt khoảng 9 triệu tấn, sức tiêu thụ dự kiến chỉ ở mức 5,6 triệu tấn, giảm khoảng 10% so với năm 2010. Bước sang năm 2012, ngành thép trong nước đặt kế hoạch sản xuất khoảng 9,8 triệu tấn, tăng 4% so với 2011 và tiêu thụ thép dự kiến chỉ tăng ở mức 4% so với năm 2011. Theo VSA, vào thời điểm hiện tại, chưa có doanh nghiệp nào tuyên bố phá sản. Tuy nhiên, theo ông Phạm Chí Cường, Chủ tịch Hiệp hội Thép Việt Nam, 20% doanh nghiệp thép đang rất khó khăn, cần phải tái cơ cấu nếu không muốn bị phá sản vào năm 2012.
Theo thông tin từ Hiệp hội Thép Việt Nam, chi phí vốn cho sản phẩm thép quá cao, giá nguyên vật liệu, nhiên liệu, than, xăng dầu, điện… trong năm 2011 đều tăng trên 10%. Đầu tư công bị thắt chặt, bất động sản đóng băng, tiêu thụ thép giảm mạnh khiến khiến lượng thép tồn kho tăng cao. Mức tồn kho đến nay khoảng 500.000 tấn trong khi số lượng cho phép là 50% số lượng. Hầu hết, các nhà máy thép chỉ chạy khoảng 50 - 60% công suất thiết kế, một số hoạt động cầm chừng, thậm chí phải “rao bán” thiết bị, nhà xưởng để trả nợ ngân hàng trong năm 2012, các khoản lãi của doanh nghiệp kiếm được trong năm 2011 sẽ mất hết, chuyển qua thua lỗ, đình đốn và phá sản.
PHÁ SẢN VÌ ĐẦU TƯ SAI !

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng điêu đứng của ngành thép hiện nay. Đó là sai lầm trong quyết định đầu tư, xây dựng nhà máy thép không theo quy hoạch dẫn đến cung vượt cầu. Cách đây không lâu, biết trước tình trạng này, Chính phủ đã quyết định tạm ngưng đầu tư thêm những nhà máy sản xuất thép, ngoại trừ những dự án nằm trong quy hoạch đã được duyệt. Thế nhưng do bị hấp dẫn bởi lợi nhuận cao của ngành thép, nhiều Bộ, Ngành và địa phương đã bỏ ngoài tai khuyến cáo này. Nhiều dự án mới không nằm trong quy hoạch nhưng vẫn được các cấp chức năng quyết định cho đầu tư.
Theo số liệu của Bộ Công Thương, đến nay cả nước có 65 dự án thép có công suất thiết kế từ 100.000 tấn/năm trở lên. Trong đó, có đến 32 dự án không thuộc danh mục qui hoạch đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, tập trung ở các tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Hải Phòng, Thanh Hóa, Hải Dương… Tổng công suất thiết kế của 65 nhà máy này lên đến 26 triệu tấn/năm, vượt hơn 6 triệu tấn/năm so với nhu cầu tiêu thụ dự kiến của ngành thép đến năm 2020. Lượng thép tồn kho quá cao, nhiều doanh nghiệp buộc phải đẩy mạnh xuất khẩu thép sang Campuchia nhưng cũng không mấy khả quan, vì phải cạnh tranh quyết liệt với thép của Thái Lan và Trung Quốc tại thị trường này.
Và như thế, các doanh nghiệp thép đang bắt đầu trả giá cho việc phớt lờ những khuyến cáo từ vài năm trước. Số liệu thống kê cho thấy, Viêt Nam có gần 30% doanh nghiệp ngành thép sử dụng công nghệ lạc hậu, hơn 40% doanh nghiệp sử dụng công nghệ ở mức trung bình, còn 20% doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến. Thép ngoại sẽ là “ác mộng” khi hàng rào thuế quan được tháo dỡ đến năm 2017. Với thuế suất chung của khu vực là 0%, ngành thép sẽ không còn một đơn vị nào “sống sót” trước sức ép cạnh tranh của hàng nhập khẩu. Đó là chưa kể đến một số doanh nghiệp trong nước thay vì nhập khẩu thép phôi sẽ chuyển sang nhập thép thành phẩm làm cho thị trường sản xuất trong nước bị đình trệ.
Số liệu kinh doanh quý III/2011 cho thấy, nhiều doanh nghiệp thép đã phải tự giảm chi tiêu kế hoạch năm 2011. Mức tiêu thụ của Công ty Gang thép Thái Nguyên chỉ bằng 70-71% kế hoạch năm nay. Lượng tiêu thụ thép của Tổng công Thép Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2011 đã giảm 2,7% so với cùng kỳ. Hiện có 50% đơn vị trong Tổng công ty Thép đạt 60% kế hoạch và 3 đơn vị bị lỗ, đây là mức giảm sút đáng kể trong những năm gần đây. Công ty Cổ phần Tập đoàn Thép Tiến Lên đã giảm mạnh nhiều chỉ tiêu của năm, đặc biệt lãi sau thuế thấp trên 60 % so mức trước đó. Lợi nhuận của Công ty Cổ phần Hữu Liên Á Châu chỉ còn 11 triệu đồng. Càng về cuối năm, các doanh nghiệp thép càng chồng chất khó khăn. Bài toán đầu ra đang chưa có lời giải. Các loại chi phí về lãi vay, kho bãi, vận chuyển, tiền lương,..cứ tăng lên vùn vụt khiến các chủ doanh nghiệp bắt đầu “sợ hãi” về một kết cục không mấy tốt đẹp của những “dự án thép”.
THẢM KỊCH CỦA NHỮNG “MÓN NỢ THÉP” !

Việc vay nợ quá nhiều từ ngân hàng đã đẩy các nhà máy thép vào hai “hố đen”. Trước hết là công suất dư thừa do đầu tư mở rộng tràn lan trong khi kinh tế thế giới bị khủng hoảng khiến thị trường đầu ra không tốt như dự đoán. Tiếp theo là gánh nặng lãi vay ngân hàng kéo dài vượt sức chịu đựng của doanh nghiệp. Đặc biệt những dự án thép vay vốn dài trung, dài hạn chưa sử dụng hết công suất đang đứng trước nguy cơ vỡ nợ vì dòng tiền vào không đủ chi trả những kỳ hạn cam kết trên các hợp đồng tín dụng. Dường như biết trước những rủi ro sẽ xảy ra, vào thời điểm này, các ngân hàng bắt đầu kiểm soát chặt các hoạt động cho vay vì sợ xảy ra hiện tượng “đảo nợ” (doanh nghiệp vay vốn lưu động để thanh toán các kỳ hạn của những món vay trung, dài hạn trước đó) hoặc vay vốn để trả lãi, một trong những hành vi nghiêm cấm được quy định trong Luật các Tổ chức Tín dụng.
Tất cả điều ấy đã dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của những khoản nợ đến hạn. Bởi thế, để tự cứu mình, các ngân hàng buộc phải cơ cấu lại kỳ hạn, áp dụng biện pháp thu nợ dần Có thể nói, đây là một trong những nguyên nhân khiến cho nhiều ngân hàng phải “ngoảnh mặt” không muốn cho các doanh nghiệp thép tiếp tục vay vốn
Trên thực tế, một số doanh nghiệp ở khu vực phía Bắc do vay quá nhiều vốn nhưng kinh doanh không hiệu quả nên bị ngân hàng đưa vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Tại Hải Phòng, công ty cổ phần thép Vạn Lợi ngừng sản xuất để lại nhiều khoản nợ xấu tại 6 ngân hàng, nợ tiền điện hơn 11 tỉ đồng, nợ BHXH gần 7 tỉ đồng…. Trước tình hình bi đát như vậy, công ty phải bán nhà máy cho Công ty Thép Việt Úc để thanh toán nợ nần. Tương tự như vậy, công ty thép Đình Vũ lỗ liên tục trong mấy năm qua, tình hình vẫn chưa có dấu hiệu sáng sủa mặc dù đã chuyển nhượng đến 70% cổ phần cho một tập đoàn Úc. Công ty cổ phần Thép Cửu Long Vinashin cũng đang đàm phán để bán lại cho một doanh nghiệp khác,…
Một chi nhánh một ngân hàng thương mại lớn đã cho một doanh nghiệp thép vay gần 250 tỉ đồng và trên 3,4 triệu USD. Dư nợ nay đã chuyển sang nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) nhưng ngân hàng vẫn không dám thực hiện các thủ tục phát mãi vì thiết bị lạc hậu, cũ kỹ và giá cao. Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng này sự chủ quan trong công tác thẩm định cho vay, kiểm tra các thiết bị nhập khẩu. Nếu phát mãi, những “đống sắt gĩ” đó sẽ được bán như thế nào để thanh toán nợ vay ngân hàng ?
Nếu lãi suất ngân hàng không giảm, đầu ra không được cải thiện, thép ngoại liên tục giảm giá, các doanh nghiệp thép sẽ đối mặt với thua lỗ và có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Tất nhiên, nợ xấu ngân hàng trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh thép sẽ gia tăng. Một kịch bản mà cả ngân hàng lẫn doanh nghiệp thép đều không muốn xảy ra trong tương lai.
truongvankhoa | 12 January, 2012 14:44
Hội nghị tổng kết hoạt động ngân hàng năm 2011 (26/12) tại Đà Nẵng đã nêu được một chủ đề “nóng”. Đó là kiến nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện trần lãi suất cho vay trong hoạt động tín dụng. Thật ra, việc giới hạn tối đa một mức lãi suất cho vay đã được chúng ta thực hiện cách đây 3 năm để giúp các doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong giai đoạn khó khăn. Chính vì thế, vệc “neo” mức lãi suất quá cao của các các ngân hàng thương mại (NHTM) như hiện nay đã trở nên “vật cản”cho việc thực thi các chính sách chống suy giảm kinh tế.
KHÔNG CÓ LÝ DO “NEO” MỨC LÃI SUẤT CAO.

Chỉ số giá tiêu dùng giảm trong nhiều tháng, giá vốn của các NHTM thấp do áp dụng trần lãi suất huy động 14% trong một thời gian dài, lợi nhuận của các doanh nghiệp không đủ để trả lãi vay. Đó là những lý do cơ bản để các ngân hàng điều chỉnh mức lãi suất cho vay xuống mức hợp lý trong giai đoạn hiện nay.
Theo thông lệ quốc tế, ngân hàng sẽ có lời khi lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động vốn từ 2%-2,5%. Thế nhưng, tại Việt Nam, với lãi suất huy động 14%/năm từ nhiều tháng nay, các NHTM đều áp dụng mức lãi suất cho vay phổ biến từ 19% đến 21%, cao hơn lãi suất đầu vào từ 5% đến 7%. Đây chính là những nghịch lý của thị trường tiền tệ. Điều đáng chú ý, trong các hợp đồng tín dụng trung dài hạn, một số ngân hàng hiện đang áp dụng công thức thả nổi (floating) với mức chênh lệch cố định +6%. Điều này có nghĩa rằng, trong bất cứ tình huống nào, lãi suất cho vay vẫn lớn hơn lãi suất huy động 6%/năm.
Một vấn đề đáng quan tâm là lãi suất liên ngân hàng hiện nay chưa thật sự ổn định. Do trần lãi suất huy động bị kiểm soát chặt nên các ngân hàng nhỏ vay trên thị trường để bù đắp thanh khoản với mức lãi suất dao động từ 15% đến 20%. Chính vì thế, do giá thành đầu vào quá cao, các ngân hàng đã không còn quan tâm đến việc hạ lãi suất cho vay. Về phía khách hàng, các doanh nghiệp đang khát vốn thật sự, nợ nguyên vật liệu và chi trả lương công nhân vào dịp cuối năm đã đến gần. Họ không còn con đường nào khác đành phải vay với lãi suất cao, chấp nhận lỗ để duy trì sản xuất kinh doanh.
Tại một Hội nghị tổng kết công tác thuế năm 2011, Thứ trưởng Bộ tài chính Hoàng Anh Tuấn cho biết, tổng nguồn vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) khoản 320 nghìn tỉ đồng, nguồn vốn đi vay lên đến 1,1 triệu nghìn tỷ đồng, 1 đồng vốn chủ sở hữu phải cõng gần 4 đồng vốn vay. Tổng lãi vay phải trả hàng năm của các DNVVN ước tính 220 nghìn tỉ đồng. Trong khi đó, lợi nhuận sau thuế của khu vực kinh tế này chỉ có 75 nghìn tỉ đồng. Đây là cái khó nhất của doanh nghiệp hiện nay.
Nói thế để thấy rằng, lợi ích kinh tế đã bị chi phối bới việc áp dụng mức lãi suất cho vay quá cao. Khách hàng, người vay vốn chưa thể thỏa thuận một mức lãi suất hợp lý cho sản xuất kinh doanh. Vì chờ đợi quá lâu việc giảm lãi suất cho vay trong khi lãi suất chỉ còn 14%, một giám đốc doanh nghiệp đã bức xúc: “Với lãi suất vay vốn từ 19%- 20%/năm, lợi nhuận chúng tôi có được chỉ đủ để trả lãi cho ngân hàng” .
Nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, thị trường đầu ra của doanh nghiệp đang gặp khó khăn bởi thị trường tiêu thụ ế ẩm, hàng tồn kho tăng. Lãi suất vay vốn quá cao trong một thời gian dài sẽ khiến hàng ngàn đơn vị phải đối mặt với nguy cơ phá sản. Chính vì thế, việc giảm lãi suất cho vay đã trở nên “khẩn cấp” để bảo vệ an toàn hoạt động cho doanh nghiệp và cả hệ thống ngân hàng.
Mới đây, tại Hội nghị triển khai nhiệm vụ ngành ngân hàng năm 2012, Chính phủ đã chỉ đạo giảm lãi suất cho vay là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của hệ thống ngân hàng. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu NHNN phải nhanh chóng giảm lãi suất vì lạm phát 5 tháng đầu tăng thấp bình quân đều dưới 1%, chúng ta hoàn toàn có thể đưa LS về mức hợp lý với lạm phát bằng cơ chế từ thị trường chứ không phải mệnh lệnh hành chính.
CẦN NHỮNG QUYẾT SÁCH CỤ THỂ VÀ THẬN TRỌNG
Việc áp dụng trần lãi suất cho vay với độ giảm dần là hướng đi đúng nhằm vực dậy nền kinh tế. Tuy nhiên, thời điểm nào để ra chính sách phải được tính toán kỹ, cân nhắc với một lộ trình thận trọng, nhất là trong thời điểm nhạy cảm như hiện nay. Có lẽ vì thế mà ông Tai Hui, Trưởng bộ phận Nghiên cứu Kinh tế Đông Nam Á của Ngân hàng Standard Chartered nhận định, đợt giảm lãi suất đầu tiên sẽ được thực hiện trước quý II/2012, bởi nếu giảm quá sớm với mức giảm lớn, có thể thị trường sẽ hiểu sai thông điệp của cơ quan quản lý. Việc sớm hay muộn đều tùy thuộc vào diễn biến lạm phát trong những tháng đầu năm 2012.
Ngày 19/12 vừa qua, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã thông báo sẽ giảm lãi suất cho vay còn 14,5-15,5%/năm. Mức gỉam lãi suất “tiên phong” này được áp dụng để tài trợ cho kinh doanh hàng xuất khẩu, phát triển nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khắc phục bão lũ. Đây là một tín hiệu đáng mừng trong việc quá trình hạ dần lãi suất để đáp ứng những nhu cầu thiết thực của khách hàng vào những ngày giáp Tết.
Tuy nhiên, một mình BIDV sẽ không thể nào hướng cả hệ thống đi theo được. Lãi suất áp dụng của BIDV chỉ gói gọn trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu và tất nhiên kèm theo những điều kiện tiên quyết nên khó phát huy “công lực” cho cả nền kinh tế. Thật ra, các ngân hàng thương mại vẫn còn nhìn nhau để xem động tĩnh từ các ngân hàng bạn. Việc giảm lãi suất cho vay theo chỉ đạo chung đang còn dè dặt và cầm chừng. Trong những ngày cuối năm, các ngân hàng sẵn sàng “neo” mức lãi suất cao để tận thu lãi, thực hiện quyết toán tài chính niên độ 2011 “đẹp” nhưng mong muốn.
Quy định trần lãi suất huy động 14% đã cố định trong một thời gian dài và bộc lộ nhiều nhược điểm. Điều này, khiến cho người ta nghĩ ngay đến việc bỏ quy định này và thay vào đó là quy định trần lãi suất cho vay. Một vấn đề được đặt ra, các ngân hàng phải áp dụng mức lãi suất như thế nào để phù hợp đặc điểm của khoản vay, quan hệ khách hàng, phương thức, thời hạn cũng như độ rủi ro của tùng món vay. Quy định trần lãi suất trong thời gian đến phải theo hướng ưu tiên cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, một thành phần kinh tế rất quan trọng trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, NHNN sẽ có một chế tài rõ ràng nhằm khắc phục những “chiêu lách” trong việc thực hiện trần lãi suất tương tự vào cuối năm 2008 như: Phí cam kết, phí thẩm định tài sản bảo đảm, phí thẩm định dự án vay, …. Những khoản phí này đã làm tăng lãi suất cho vay, gây khó khăn cho doanh nghiệp và khách hàng vay vốn.
Việc giảm lãi suất chắc chắn sẽ không “ào ạt” vì liên quan đến chủ trương chống lạm phát của Chính phủ. Chỉ số giá tiêu dùng tháng 12 đã tăng 0,53% đẩy lạm phát cả năm 2011 lên mức 18,12%. Dấu hiệu này đã cho thấy chỉ số lạm phát năm 2012 là một ẩn số khó lường và có khả năng quay lại. Tại Hội nghị phát triển kinh tế xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012 (23/12) tại Hà Nội, Thủ tướng cho rằng, ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát chưa vững chắc. Nếu không nghiêm túc, không quyết liệt, kiên trì, đồng bộ thì lạm phát cao có thể quay trở lại. Lạm phát cao quay trở lại thì ổn định kinh tế vĩ mô bị đe dọa, dẫn tới đảo lộn tất cả mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra. Chính vì thế, giảm lãi suất sẽ được điều chỉnh giảm dần lãi suất xuống phù hợp với lạm phát hiện tại.
Hơn bao giờ hết, các doanh nghiệp và khách hàng vay vốn đang trông chờ tín hiệu và quyết sách của NHNN về trần lãi suất cho vay. Chính sách tiền tệ phải linh hoạt trong từng thời kỳ nhằm mục tiêu ổn định và tăng trưởng kinh tế. Sự quyết đoán về chính sách tiền tệ đúng thời điểm sẽ có tính cộng hưởng và đem lại những lợi ích kinh tế và xã hội vô cùng lớn. Đó là mục tiêu mà Chính phủ và nhân dân đều mong đợi.
truongvankhoa | 12 January, 2012 14:33
Quy trình “chuyển giá” đã được các công ty kinh doanh xăng dầu “sáng tạo” và được thực hiện đều đặn. Điều đáng chú ý, phương pháp đó không hề vấp phải một sự “kháng cự” nào trong suốt một thời gian dài.
“Cuộc chiến” lãi - lỗ xăng dầu giữa Bộ Tài chính và Bộ Công Thương vào tháng 9/2011 đã có hồi kết. Điều đó có nghĩa rằng, theo số liệu kiểm toán, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đều “có lãi hoặc cơ bản là không lỗ”. Hay nói một cách khác, việc kêu lỗ của các đơn vị độc quyền kinh doanh xăng dầu chỉ là ngụy ngôn trong “thủ thuật chuyển giá” nhằm qua mặt các cơ quan chức năng.
“Chuyển giá” được biết đến tại Việt Nam vào cuối thập niên 90. Về lý thuyết, “chuyển giá” là việc thực hiện chính sách giá cả đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn nhằm tối thiểu hóa số thuế phải nộp của các công ty có nhiều thành viên. Do vậy, “chuyển giá” đã được các nhà hoạch định chính sách tài chính Việt Nam xác định là một vấn đề cần quan tâm và kiểm soát khi thị trường xuất hiện ngày càng nhiều dấu hiệu “chuyển giá” trong các giao dịch kinh tế. Có thể nói rằng, văn bản pháp lý đầu tiên đề cập đến “chuyển giá” là Thông tư 74/1997/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn về thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài. Sau này, Thông tư 117/2005/TT-BTC vào năm 2005 được xem là văn bản pháp lý điều chỉnh một cách khá chi tiết về các biện pháp chống “chuyển giá” tại Việt Nam.
“Chuyển giá” trong kinh doanh xăng dầu được hiểu nôm na là công ty “mẹ” sinh ra nhiều công ty “con” (trong đó có cổ phần lớn của “mẹ”). “Mẹ” hy sinh bán giá hời, rẻ mạt (chiết khấu cao) để các “con” kinh doanh có lợi nhuận. “Con” càng có lãi, “mẹ” càng được “chia chác” nhiều thông qua cổ tức hàng năm. “Mẹ” chỉ việc là hô hoán lên cho bàn dân thiên hạ biết là “mẹ” kinh doanh xăng dầu lỗ hàng ngàn tỉ đồng. Do vậy, “mẹ” không phải nộp thuế cho Nhà nước một đồng nào. “Mẹ” báo cáo với các cấp quản lý rằng, “mẹ” đã vất vả và hy sinh trong nhiệm vụ phân phối xăng dầu đến người tiêu dùng với giá cả hợp lý ?.
Thế đấy ! Quy trình “chuyển giá” đã được các công ty kinh doanh xăng dầu “sáng tạo” và được thực hiện đều đặn. Điều đáng chú ý, phương pháp đó không hề vấp phải một sự “kháng cự” nào trong suốt một thời gian dài.
Câu chuyện chi hoa hồng cao ngất ngưỡng cho các cửa hàng, đại lý xăng dầu của các công ty xăng dầu đầu mối đã được các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải và phân tích trong mấy ngày nay. Nhiều ý kiến tranh cãi và phản biện. Có người cho rằng, việc chiết khấu như vậy không thể gọi là “chuyển giá”. Tuy nhiên, về mặt bản chất, đó chính là động tác “chuyển giá” dưới một hình thức khác nhằm lách thuế, vụ lợi trong kinh doanh. Cách thức này đã tác động lớn đến giá bán lẻ xăng dầu trong thời gian qua. Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) chiếm 60% thị phần, có 42 công ty thành viên, 4.000 đại lý trên toàn quốc, trong đó có 2.200 cửa hàng trực thuộc. Các đơn vị này thường có cổ phần của Petrolimex với tỉ lệ cổ phần chi phối lên đến 51%. Nếu các đơn vị thành viên này có lãi, mặc nhiên Petrolimex có lợi. Điều này minh chứng vì sao Petrolimex đã chi chiết khấu cao hơn so với quy định của Bộ tài chính. Số liệu kiểm tra cho biết, các khoản chi phí và chiết khấu ở mức 600 đồng/ 1lít xăng. Tuy nhiên, trên thực tế, các doanh nghiệp đã chi cho đại lý lên tới 1.100-1.200 đồng. Riêng Petrolimex áp dụng mức hoa hồng cho đại lý là 860 đồng/1lít. Chính vì thế, số lỗ do chi hoa hồng cao hơn định mức của Petrolimex lên tới 516 tỷ đồng. Khoản lỗ này đã được “đánh tráo” giữa các đơn vị kinh doanh xăng dầu qua công cụ “chuyển giá”.
Dư luận đang bức xúc ! Các cổ đông của công ty thành viên, đại lý xăng dầu được hưởng lợi tức “béo bở” nhưng tiêu dùng bị thiệt hại. Nhà nước thất thu thuế, người dân mất niềm tin vào các doanh nghiệp. Hệ lụy xã hội về đạo đức kinh doanh vô cùng lớn. Những câu hỏi được công luận đặt ra, tại sao những vi phạm như thế lại kéo dài trong một thời gian dài ? Ai là người chịu trách nhiệm cá nhân để xảy vụ việc? Hệ thống quản lý, điều hành, phân phối có những bất cập nào? Sau đợt thanh kiểm tra, chúng ta phải làm gì để ngăn chặn hiệu quả những hành vị gian lận ? Đó chính là những câu hỏi cần phải được trả lời rõ ràng trước Nhà nước và nhân dân. Những vi phạm trong quản lý kinh tế, hành vi gian lận, cạnh tranh không lành mạnh phải bị xử phạt nghiêm minh.
Làm giàu nhưng không trái đạo lý. Làm giàu có trách nhiệm với bản thân mình, cộng đồng và đất nước. Đó không chỉ là trách nhiệm đạo đức mà còn là trách nhiệm xã hội. Để ý thức được điều này, các doanh nghiệp phải tự điều chỉnh các hoạt động kinh doanh của mình sao cho phù hợp với những đòi hỏi của chuẩn mực pháp lý và đạo đức. Kinh tế thị trường phải hướng tới lợi nhuận chính đáng và chân thiện. Những ai biết tôn trọng khách hàng, đạo lý, lấy chữ tín làm đầu mới có hy vọng thành đạt trên thương trường nội địa và quốc tế. Thế giới rộng lớn và đầy tiềm năng, đó chính môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp tìm kiếm lợi nhuận, không chỉ cho riêng mình mà còn cho đất nước và sự phát triển chung của xã hội. Hơn bao giờ hết, các doanh nghiệp xăng dầu hãy gạt bỏ những lợi ích cục bộ, cá nhân để bảo vệ lợi ích của người dân nhằm duy trì một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng.
Trương Văn Khoa
Tuổi con Rồng
vankhoa64@gmail.com
Kính đề nghị ghi rõ nguồn trích dẫn và đăng tải thông tin tại trang này.
Xin cảm ơn !
| « | January 2012 | » | ||||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Mo | Tu | We | Th | Fr | Sa | Su |
| 1 | ||||||
| 2 | 3 | 4 | 5 | 6 | 7 | 8 |
| 9 | 10 | 11 | 12 | 13 | 14 | 15 |
| 16 | 17 | 18 | 19 | 20 | 21 | 22 |
| 23 | 24 | 25 | 26 | 27 | 28 | 29 |
| 30 | 31 | |||||