"CANH BẠC" NGƯỜI Ở CÁC NGÂN HÀNG TƯ NHÂN

By Truong Van Khoa

             

Chuyện bổ nhiệm miễn nhiệm và hoán đổi các chức vụ trong các ngân hàng tư nhân là "chuyện thường ngày ở huyện". Tuy nhiên đến nay vẫn còn những kẻ than vãn rằng làm việc ở ngân hàng cổ phần tư nhân không ổn định. Kiểu tư duy bao cấp thích ngồi lì một chổ mặc kệ nó cứ đeo bám mãi trong não trạng của một số người đang hành nghề "buôn tiền". Thích an phận đến tháng nhận lương chỉ có lên chức chứ không bao giờ xuống chức "chạy" khi có tội để yên vị là phương án tối ưu và khả thi nhất của một số cán bộ ngân hàng hiện nay.

Nhưng với một cách nhìn khác việc ra khỏi "ghế" nhanh chóng tại các ngân hàng tư nhân cũng giống như một "sòng bạc" ngồi xuống và đứng lên là lẽ đương nhiên. Kẻ thua cuộc phải ra đi và để lại "ghế ngồi" cho những người bắt đầu một cuộc chơi mới. Sự thay thế này cứ tiếp diễn không ngừng. Tất cả đều phải đồng ý một luật chơi. Và như thế chúng ta phải biết chấp nhận một quy luật đào thải trong thị trường nhân sự của kinh tế tư nhân.

Nói thế để thấy rằng sự nghiệt ngã trong cách dùng người của các tổ chức tín dụng cổ phần đều bắt nguồn từ những nhóm lợi ích cơ bản. Cơ chế quản trị nhân sự kiểu này thường sẵn sàng hành xử không thương tiếc cho những vi phạm cá nhân và tập thể cho dù là nhỏ nhất. Sự thất thoát tài sản trong bảng cân đối được chú ý và ưu tiên hàng đầu trong các cuộc họp bàn về nhân sự của Hội đồng quản trị. Nói trắng ra kẻ nào làm mất vốn trong quá trình điều hành kinh doanh đều phải nói lời chia tay và "go out" ngay lập tức.


            Ngược lại cách xử lý những vụ việc sai phạm về công tác tín dụng (thất thoát hàng đầu về nguồn vốn của hệ thống ngân hàng) đã cho thấy sự dung túng đến mức báo động của các tổ chức tín dụng quốc doanh trong quá trình điều hành kinh doanh và quản trị nhân sự. Kiểu bao che và tìm kiếm những quyền lực bên ngoài để tiến hành khoả lấp và cho "chìm xuồng" các vụ việc là những động tác "giấu bệnh" khá nguy hiểm. Đến khi nào những khoản tín dụng khổng lồ vỡ toang ra cả thế giới đều biết. Chết vẫn không trối kịp ! Trường hợp Vinashin với số nợ lên đến 86.000 tỉ đồng là một minh chứng không thể chối cãi được.

Không xử lý cán bộ ngân hàng trong công tác tín dụng là một sai lầm. Điều này đã tạo ra một tiền lệ cực xấu. Anh làm mất vài triệu USD vẫn ngồi như vậy đến lượt tôi gây thất thoát vài trăm tỉ rồi cũng đâu vào đấy. Một khối u về tín dụng ! Vâng đúng một khối ung bệnh hoạn và di căn đến vài năm sau. Kinh doanh lỗ và không có lương là hệ quả tất yếu của một quá trình che chắn ém nhẹm những "tội đồ" về tín dụng.     

Dù muốn hay không chúng ta vẫn đồng tình cách hành xử kiểu "canh bạc" người tại các ngân hàng tư nhân. Nơi đó không có ân huệ ơn nghĩa hoặc nói theo kiểu dân đen là "con ông cháu cha". Sự thẳng tay sòng phẳng khi bất cứ một kẻ nào làm mất vốn của cổ đông. Nói toạc ra tiền của cá nhân chúng tôi được thể hiện ở vốn pháp định chúng tôi thuê anh để kinh doanh cho số vốn đó được sinh lời. Nếu anh làm mất vốn của chúng tôi anh buộc phải ra đi cho dù anh đang ở cương vị Tổng Giám đốc.    

Công tội phải rõ ràng như ánh sáng và bóng tối. Nền văn minh nhân loại không dung nạp những kẻ đang cố tình chạy tội một khi đã phạm những sai lầm không thể tha thứ được.

More...

TIẾN SĨ "MÌ ĂN LIỀN" VÀ THẠC SĨ "DỎM" Ở VIỆT NAM

By Truong Van Khoa

          

 (Bài viết đã được đăng trên Báo Doanh Nghiệp Chủ
               Nhật số 35-2010 phát hành ngày 29.08.2010)
         
         Chuyện công chức đem USD đi "mua" bằng nhằm bổ sung hồ sơ tổ chức để được đề bạt chức vụ là một thực trạng đáng được báo động. Nắm bắt được nhu cầu ngày càng cao về thói sinh bằng cấp kiểu bổ nhiệm chức vụ căn cứ vào các danh hiệu "thạc sĩ" hoặc "tiến sĩ" các trường đại học ở Việt Nam đã ồ ạt liên kết với các trường đại học "quá đát" ở nước ngoài để đào tạo hàng loạt công chức có bằng cấp kém chất lượng. Kiểu văn bằng của Đại học Nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ là một minh chứng .

Có một thời dư luận và công chúng đã lên tiếng phản đối dữ dội về những thạc sĩ "mù" tiếng nước ngoài (cụ thể là Anh văn) khả năng đọc và nói tiếng nước ngoài quá kém cỏi và thua xa các em học sinh các trường trung học phổ thông cơ sở. Bởi thế sau này Bộ giáo dục mới ban hành quy định học viên chỉ được bảo vệ luận văn thạc sĩ khi có đủ các điều kiện về trình độ ngoại ngữ cụ thể là chứng chỉ TOEFL ITP 450 điểm iBT 45 điểm hoặc IELTS 4.5 trở lên hoặc tương đương trong thời hạn 2 năm kể từ ngày cấp chứng chỉ.

Đến bây giờ chúng ta vẫn không hiểu nổi tại sao những công chức Việt Nam lại cố tìm cách lấy cho được bằng tiến sĩ (hoặc thạc sĩ nước ngoài) một cách nhanh nhất ít nghiên cứu nhất dễ dàng nhất cho dù tốn hàng chục ngàn USD (có thể là tiền cá nhân tiền từ doanh nghiệp hoặc ngân sách Nhà nước) ? Họ có bao giờ cảm thấy hổ thẹn khi đưa tay nhận lấy tấm bằng chứng nhận về học vấn với một trình độ chưa xứng đáng không có công trình gì giúp ích gì cho đất nước lợi cho quốc dân. Danh hiệu TS Ths kiểu như vậy lại dược rêu rao và vinh danh một các vô tội vạ ở các hội nghị họ xúm xít vỗ tay tán thưởng trong ảo ảnh trong hư danh để rồi đề bạt lên một chức vụ cao hơn nữa.

Mới đây khi trả lời phỏng vấn Báo Đất Việt GS TS Nhà giáo Nhân dân Hoàng Xuân Sính nữ tiến sĩ toán học đầu tiên của Việt Nam (Tiến sĩ quốc gia Pháp) đã thẳng thắng: "Phải nói thực trạng trên xuất phát từ bệnh hiếu danh. Hiếu danh đều có trong mỗi con người song đáng buồn là cơ chế của ta lại đang "khuyến khích" căn bệnh này. Một khi ông lãnh đạo quá đề cao chức danh hay học vị thì cấp dưới của họ sẽ giơ ngay bằng nọ bằng kia để được đề bạt thăng tiến nhanh hơn. Còn nếu người lãnh đạo cũng coi một anh tiến sĩ và một anh lao động bình thường đều có những năng lực và đóng góp ngang nhau trên mỗi cương vị thì tôi nghĩ sẽ chẳng ai khoe cái danh tiến sĩ thạc sĩ làm gì ?"


            

            Khi được hỏi về chuyện một số quan chức đi học tiến sĩ chỉ mất có 6 tháng có bằng tiến sĩ nhưng không biết ngoại ngữ học thạc sĩ chỉ mất có 40 ngày bà Sính tiếp tục: " Thế hệ bọn tôi chưa kể học tiến sĩ mà ngay cả học thạc sĩ cũng cực kỳ vất vả và đặc biệt là rất nghiêm túc. Nhưng càng về sau này tôi thấy nhiều người học càng ngày càng lười. Thậm chí có những bài luận văn thạc sĩ của không ít người chính là bài của tôi. Nhưng nếu không cho họ đỗ thì họ lại kêu khóc rằng sẽ bị cơ quan sa thải nên vẫn đành phải cho qua. Một cậu học trò của tôi tốt nghiệp khoa Triết của trường Tổng hợp đã từng tới từ biệt tôi vì không tìm được việc làm. Sau một thời gian gặp lại thấy khá khẩm hơn và cậu ấy nói đã sống bằng nghề làm luận văn tiến sĩ mà toàn tiến sĩ ngành kinh tế. Cậu  ấy bảo: "Không có gì khó tất cả đều lơ lớ giống nhau em cũng đi sao chép từ các luận văn khác chỉ có điều đổi tên luận án". Cậu ấy nói rằng trong những đối tượng thuê làm luận văn có cả tổ chức cơ quan nhà nước. Một thời gian sau cậu ấy đã tổ chức cả đường dây làm mỗi tuần xong một luận án. Thời gian gần đây tôi có nghe tin cậu ấy đã được mời làm viện trưởng một viện kinh tế.


            Quy hoạch cán bộ và thi tuyển công chức nên tổ chức kiểm tra và đánh giá các tiêu chí cần thiết : Chỉ số thông minh IQ (Intelligent quotient) và chỉ số cảm xúc EQ (Emotional quotient). Việt Nam chúng ta có nhiều người tài năng thật sự nhưng chưa hề có một văn bằng thạc sĩ (hoặc tiến sĩ) để khoe khoang với các cơ quan công quyền vỗ ngực xưng danh với cấp dưới. Họ đã âm thầm lặng lẽ cống hiến thật sự cho đất nước cho dân tộc: GS Tôn Thất Tùng (bác sĩ) GS Tạ Quang Bửu (cử nhân) GS Trần Đại Nghĩa (kỹ sư) .. 

Trình độ công chức được đánh giá dựa trên bốn năng lực cơ bản: Năng lực tư duy; năng lực hành động (khả năng tổ chức thực hiện công việc hiệu quả hoàn thành nhiệm vụ trong điều kiện thực tiễn phức tạp); năng lực quan hệ giao tiếp thuyết phục lãnh đạo làm việc với người khác; năng lực học tập tiếp thu đổi mới sáng tạo phát triển.

Bồi dưỡng kiến thức nâng cao tay nghề cho công chức là một việc làm cấp thiết hiện nay để duy trì công việc một cách hiệu quả . Tiến sĩ là nghiên cứu là công bố những đề tài thật sự ích nước lợi dân bước đào tạo đó được thực hiện trong các viện nghiên cứu các trường đại học các trung tâm giáo dục cao cấp. Cán bộ công chức ở các ban ngành là người thực thi công việc một cách cụ thể nhằm phục vụ cho công chúng. Không thể có một quy trình tuyển dụng cán bộ làm việc rồi lại đào tạo cho họ đi học tiến sĩ để về để lên lương đề bạt làm lãnh đạo. Chưa có nước nào làm như vậy! Đề cập về vấn đề này giáo sư Trần Văn Thọ (Đại học Waseda - Nhật Bản) cho rằng: " Bằng tiến sĩ không phải nhằm đào tạo nhà quản lý hoặc lãnh đạo để cho phép Nhà nước cấp kinh phí đi học tại chức lấy bằng tiến sĩ bằng tiến sĩ là bước cơ bản nhằm đào tạo đội ngũ khoa học có trình độ cao để phục vụ giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học".

Lòng tự trọng của con người đã bị đánh mất bởi những ánh hào quang dối trá của các học vị tiến sĩ  "mì ăn liền" và thạc sĩ "dỏm".  

More...

Mùa Vu Lan nhớ Phạm Thế Mỹ !

By Truong Van Khoa

                


            Vào những năm đầu của thập kỷ 60 Sài Gòn  đầy bom đạn thép gai và những đợt xuống đường biểu tình của tăng ni Phật giáo. Trong không khí sôi sục của phong trào phản chiến ca khúc "Bông hồng cài áo" của Phạm Thế Mỹ ra đời và trở thành bất hủ trong giới sinh viên và Phật tử . Có th
ể nói rằng lúc bấy giờ khả năng sáng tạo của Phạm Thế Mỹ rất mãnh liệt và đạt đến đỉnh cao của dòng nhạc hướng về hoà bình. Những ca khúc: Nắng lên xóm nghèo   Hoa vẫn nở trên đường quê hương Đường về 2 thôn Người về thành phố Trăng tàn trên hè phố Những ngày xưa thân ái ... được mọi người nồng nhiệt đón chào với tất cả tình yêu quê hương đất nước.

Báo Le monde ngày 11/2/1972 Mireille Gansel đã nhận định rằng: "Những ca khúc ấy đã đánh thức lương tâm của tuổi trẻ và lòng nhiệt thành của họ. Tất cả cơ đồ của "lối sống Mỹ" đã bất lực không thể bóp nghẹt tiếng nói của thế hệ trẻ sinh ra dưới những trận mưa bom chưa bao giờ họ được biết gương mặt của hòa bình"

Mùa Vu Lan lại về một lần nữa chúng ta nghe "Bông hồng cài áo" vang lên ở khắp mọi miền đất nước: " Một bông hồng cho em một bông hồng cho anh và một bông hồng cho những ai ..."
            
            


            Phạm Thế Mỹ
sinh ngày 15 tháng 11 năm 1930 (có tài liệu ghi 1932) ông là một nhạc sĩ tài hoa của Việt Namcó nhiều bài hát được nhiều người yêu thích.

Sinh tại Đập Đá An Nhơn Bình Định Phạm Thế Mỹ là con thứ 11 của một gia đình trung lưu. Anh trai ông là nhà văn Phạm Văn Ký và nhà văn Phạm Hổ. Từ năm 1947 đến năm 1949 ông học và hoạt động văn nghệ trong trường Thiếu sinh quân ở Liên khu V. Đầu thập niên 1950 ông làm công tác tuyên huấn và phóng viên cho báo Quân đội Nhân dân. Nhạc phẩm đầu tay của ông là Nắng lên xóm nghèo.

Hiệp định Geneve được ký kết theo sự sắp xếp của Ban chấp hành Chi hội ông được bố trí ở lại miền Nam để hoạt động hợp pháp cho phong trào đấu tranh vì hòa bình. Năm 1959 Phạm Thế Mỹ rời Qui Nhơn vào Sài Gòn theo học ở Trường quốc gia âm nhạc . Sau đó do không được yên ổn hoạt động Phạm Thế Mỹ lánh về Đà Nẵng dạy Việt văn và bộ môn nhạc ở các trường tư thục Tây Hồ Bồ Đề Nguyễn Công Trứ Sao Mai Bán Công   Tân Thanh... .

Ông bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam vì đấu tranh trong phong trào Phật giáo (1965-1966) thời gian này ông sáng tác bài nhạc bất hủ Bông hồng cài áo (lấy ý từ thơ Thích Nhất Hạnh). Ra tù ông tiếp tục sáng tác các bài hát như Hoa vẫn nở trên đường quê hương Người về thành phố Những người không chết... được phổ biến trong phong trào học sinh - sinh viên Sài Gòn. Từ năm 1970 đến 1975 ông là Trưởng phòng Văn - Mỹ - Nghệ của Viện Đại học Vạn Hạnh.

Sau năm 1975 ông công tác tại Phòng Văn hóa - Thông tin Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông bắt đầu sáng tác những bài hát nhạc đỏ như: Nhớ ơn Bác nhớ ơn Đảng (Giải nhì Hội Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh) Thắm đượm duyên quê Lêna Belicova...

Trò chuyện  trên báo Sài gòn Giải phóng (số ra ngày 28/10/2001) Phạm Thế Mỹ cho rằng "Tôi thật sự không thích nói về những gì mình đã có tất cả những sáng tác của tôi chỉ được bộc phát bằng sự say mê của chính mình. Tôi quan niệm ca khúc mang âm hưởng tính dân tộc không phải chỉ ở giai điệu mà trong từng lời ca cũng phải rất tượng hình. Tượng hình trong ngôn ngữ văn chương giúp cho hình tượng âm nhạc trong ca khúc rõ nét giúp người nghe hình dung được sự thể hiện tình cảm và hình ảnh mà tác giả muốn vẽ lên".

Trước tháng 5/1975 Phạm Thế Mỹ đã có 2 tập tuyển ca khúc được xuất bản: Hòa bình ơi hãy đến! (1969) và Trái tim Việt Nam (1971). Sau ngày đất nước thống nhất Phạm Thế Mỹ gia nhập Hội nhạc sĩ Việt Nam tiếp tục sáng tác  những ca khúc được công chúng yêu mến: Thắm đượm duyên quê Lêna Bêlicơva. Nhà xuất bản âm nhạc (Bộ VHTT) đã xuất bản tập tuyển ca khúc Cho trái đất này vui (1990) và Tập trường ca Phạm Thế Mỹ (1996).

Nghỉ hưu Phạm Thế Mỹ  sống âm thầm tại một căn nhà nhỏ tại Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất vào lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 1 năm 2009 sau một thời gian dài bị bệnh ở tuổi 79.




Bông hồng cài áo

Một bông Hồng cho em
Một bông Hồng cho anh
Và một bông Hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm
Mẹ Mẹ là giòng suối dịu hiền
Mẹ Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối
Mẹ Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời
Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu nhìn thật lâu
Rồi nói nói với Mẹ rằng "Mẹ ơi Mẹ ơi Mẹ có biết hay không ?"
-Biết gì ? "Biết là biết là con thương Mẹ không ?"
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.





Những ngày xưa thân ái
Những ngày xưa thân ái anh gởi lại cho ai
Gió mùa xuân êm đưa rung hàng cây lưa thưa
Anh cùng tôi bước nhỏ áo quần nhăn giấc ngủ
Đi tìm chim sáo nở ôi bây giờ anh còn nhớ ?
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho ai
Trăng mùa thu lên cao khóm dừa xanh lao xao
Anh cùng tôi trốn ngủ ra ngồi hiên lá đổ
Trong bầy chim trắng hiền mơ một nàng tiên dịu hiền
Đêm đêm nằm nghe súng nổ giữa rừng khuya thác đổ anh còn nhắc tên tôi ?
Đêm đêm nhìn trăng sáng tỏ bên đồi hoa trắng nở cuộc đời anh có vui ?
Thời gian qua mau tìm anh nơi đâu
Tôi về qua xóm nhỏ con đò nay đã già
Nghe tin anh gục ngã
Dừng chân quán năm xưa
Uống nước dừa hay nước mắt quê hương
Những đường xưa phố cũ thôi nỡ đành quên sao
Xin gọi lại tên anh giữa trời sao long lanh
Anh giờ yên giấc ngủ tôi nằm nghe súng nổ
Như lời anh nhắc nhở ôi câm hờn dâng ngập lối
Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em





Người về thành phố

Người đã đi đi trên non cao
Nay đã về trên đồng ruộng sâu
Nay đã về trên thành phố mới
Cả trời xanh dâng cho quê hương
Đem máu mình nuôi lại tình thương
Đem máu mình nuôi ngày hoà bình
Người đã đi người đã tới
Trời Việt Nam hôm nay đổi mới
Mặt trời ơi Loài người ơi
hát vang lên cho thoả niềm vui
Người người vui nhà nhà vui
đèn đèn hoa theo ra ngõ tối
Người về đây rừng cờ bay
nắm tay nhau xây lại Việt Nam
Từ biển xa lên trên non cao
máu các anh thấm vào ruộng sâu
thấm trong tim tươi ngọn lúa mới
Nụ cười trên môi em thân yêu
trên nẻo đường quê mẹ tàn hoang
trên đất khô đã thành ruộng vàng
Ruộng đồng ơi thị thành ơi
Trời Việt Nam hôm nay rực sáng
Nhà của ta ruộng của ta
cánh tay ta xây lại đời ta
Bạn bè ơi kẻ thù ơi
Đường Việt Nam thênh thang ngàn lối
Người đã đi Người đã tới
bước chân anh nối lại Việt Nam




Đường về hai thôn

Đường về thôn em duyên dáng bên ven sông con thuyền xuôi mái.

Nhịp cầu băng qua men lối đi quanh có ngõ hoa nối dài.

Nhà em cuối xóm ghép đôi mái tranh nâu trăng cày trước sau

Có tằm mến nương dâu

Có trầu vấn vương cau

Và đào tơ thơm ngát ngát hương trinh ban đầu.
Đường về thôn anh con sáo ru êm êm trên đồng xanh lúa

Nhịp cầu băng qua đua tới sân rêu xưa thắm hoa bốn mùa .

Nhà anh mái lá tháng năm vẫn chưa nghe duyên trọn ước mơ

Có giàn mướp xanh lơ

Có hồ cá nên thơ

Và lòng quê vẫn hát hát đôi câu mong chờ.
Mỗi đêm thanh trăng ngà hội mùa lên tiếng ca góp đôi tay cần lao.

Ôi hai thôn giao đầu nhip cầu nhip cầu che bước chung thêm vui dường bao.

Tình ta lên men rồi

Còn chi ngăn cách lòng

Mà chưa trao giấc mơ xuân cùng nhau.

Trời dâng lên trăng màu

Bà con đang mong cầu

Rằng đôi ta sớm nên duyên ban đầu.
Đường về hai thôn mai mốt đôi uyên ương qua cầu soi bóng

Nhủ thầm sông ơi gương nưóc chưa phôi phai ta còn vui hoài.

Trời quê bát ngát sẽ trong thấy tương lai qua tình lứa đôi.

Lúa đồng mãi xanh tươi

Mướp cà thắm nơi nơi

Và vành môi trai gái hát câu ca yêu đời.
.... Nhịp cầu đưa lối chung bước hai thôn ta đón trăng về...mừng duyên quê....





Trăng tàn trên hè phố

Tôi lại gặp anh người trai nơi chiến tuyến súng trên vai bước về qua hè phố.

Tôi lại gặp anh giờ đây nơi quán nhỏ tuổi ba mươi mà ngỡ như trẻ thơ.

Nhớ gì từ ngày anh ra mái trường

Nhớ gì từ ngày anh vui lên đường

Lối về nhà anh hoa phượng thắm

Màu xanh áo người thương

Nắng chiều đẹp quê hương

hay nhạc buồn đêm thương.

Tôi lại gặp anh trời đêm nay sáng quá ánh trăng như hé cười sau màn lá.

Tôi lại gặp anh đường khuya vui bước nhỏ kể nhau nghe chuyện cũ bao ngày qua

Lối gầy về nhà anh hoa vẫn nở

Kỷ niệm từ ngày xưa chưa xóa mờ

Ánh đèn vàng từ ngoại ô vẫn còn đó

sống cuộc đời hôm nay với bọn mình đêm nay.

Anh sống đời trai giữa núi đồi.

Tôi viết bài ca xây đời mới

Bờ tre quê hương tay súng anh gìn giữ

Tôi hát vang giữa trời để người vui.
Thôi mình chia tay

Cầu mong anh chiến thắng

Ánh trăng khuya sắp tàn trên hè phố.

Thôi mình chia tay

Rồi mai đây có về

Quà cho tôi anh nhớ chép bài thơ.

Nắng đẹp của bình minh đang hé cười.

Nỗi buồn vui biệt ly sẽ xóa mờ

Súng từ rừng sâu vẫn còn đó

Đừng lưu luyến gì đây

Thôi bọn mình chia tay

Thôi bọn mình chia tay...
                   
           
            
            

More...

Mùa Vu Lan nhớ Phạm Thế Mỹ

By Truong Van Khoa


            
            Vào những năm đầu của thập kỷ 60 Sài Gòn  đầy bom đạn thép gai và những đợt xuống đường biểu tình của tăng ni Phật giáo. Trong không khí sôi sục của phong trào phản chiến ca khúc "Bông hồng cài áo" của Phạm Thế Mỹ ra đời và trở thành bất hủ trong giới sinh viên và Phật tử . Có thể nói rằng lúc bấy giờ khả năng sáng tạo của Phạm Thế Mỹ rất mãnh liệt và đạt đến đỉnh cao của dòng nhạc hướng về hoà bình. Những ca khúc: Nắng lên xóm nghèo   Hoa vẫn nở trên đường quê hương Đường về 2 thôn Người về thành phố Trăng tàn trên hè phố Những ngày xưa thân ái ... được mọi người nồng nhiệt đón chào với tất cả tình yêu quê hương đất nước.

Báo Le monde ngày 11/2/1972 Mireille Gansel đã nhận định rằng: "Những ca khúc ấy đã đánh thức lương tâm của tuổi trẻ và lòng nhiệt thành của họ. Tất cả cơ đồ của "lối sống Mỹ" đã bất lực không thể bóp nghẹt tiếng nói của thế hệ trẻ sinh ra dưới những trận mưa bom chưa bao giờ họ được biết gương mặt của hòa bình"

Mùa Vu Lan lại về một lần nữa chúng ta nghe "Bông hồng cài áo" vang lên ở khắp mọi miền đất nước: " Một bông hồng cho em một bông hồng cho anh và một bông hồng cho những ai ..."

            


            Phạm Thế Mỹ sinh ngày
15 tháng 11 năm 1930 (có tài liệu ghi là 1932) ông là một nhạc sĩ tài hoa của Việt Nam và có nhiều bài hát được nhiều người yêu thích.

Sinh tại Đập Đá An Nhơn Bình Định Phạm Thế Mỹ là con thứ 11 của một gia đình trung lưu. Anh trai ông là nhà văn Phạm Văn Ký và nhà văn Phạm Hổ. Từ năm 1947 đến năm 1949 ông học và hoạt động văn nghệ trong trường Thiếu sinh quân ở Liên khu V. Đầu thập niên 1950 ông làm công tác tuyên huấn và phóng viên cho báo Quân đội Nhân dân. Nhạc phẩm đầu tay của ông là Nắng lên xóm nghèo.

Hhiệp định Geneve được ký kết theo sự sắp xếp của Ban chấp hành Chi hội ông được bố trí ở lại miền Nam để hoạt động hợp pháp cho phong trào đấu tranh vì hòa bình. Năm 1959 Phạm Thế Mỹ rời Qui Nhơn vào Sài Gòn theo học ở Trường quốc gia âm nhạc . Sau đó do không được yên ổn hoạt động Phạm Thế Mỹ lánh về Đà Nẵng dạy Việt văn và bộ môn nhạc ở các trường tư thục Tây Hồ Bồ Đề Nguyễn Công Trứ Sao Mai Bán Công   Tân Thanh... .

Ông bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa bắt giam vì đấu tranh trong phong trào Phật giáo (1965-1966) thời gian này ông sáng tác bài nhạc bất hủ Bông hồng cài áo (lấy ý từ thơ Thích Nhất Hạnh). Ra tù ông tiếp tục sáng tác các bài hát như Hoa vẫn nở trên đường quê hương Người về thành phố Những người không chết... được phổ biến trong phong trào học sinh - sinh viên Sài Gòn. Từ năm 1970 đến 1975 ông là Trưởng phòng Văn - Mỹ - Nghệ của Viện Đại học Vạn Hạnh.

Sau năm 1975 ông công tác tại Phòng Văn hóa - Thông tin Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông bắt đầu sáng tác những bài hát nhạc đỏ như: Nhớ ơn Bác nhớ ơn Đảng (Giải nhì Hội Âm nhạc thành phố Hồ Chí Minh) Thắm đượm duyên quê Lêna Belicova...

Trò chuyện  trên báo Sài gòn Giải phóng (số ra ngày 28/10/2001) Phạm Thế Mỹ cho rằng "Tôi thật sự không thích nói về những gì mình đã có tất cả những sáng tác của tôi chỉ được bộc phát bằng sự say mê của chính mình. Tôi quan niệm ca khúc mang âm hưởng tính dân tộc không phải chỉ ở giai điệu mà trong từng lời ca cũng phải rất tượng hình. Tượng hình trong ngôn ngữ văn chương giúp cho hình tượng âm nhạc trong ca khúc rõ nét giúp người nghe hình dung được sự thể hiện tình cảm và hình ảnh mà tác giả muốn vẽ lên".

Trước tháng 5/1975 Phạm Thế Mỹ đã có 2 tập tuyển ca khúc được xuất bản: Hòa bình ơi hãy đến! (1969) và Trái tim Việt Nam (1971). Sau ngày đất nước thống nhất Phạm Thế Mỹ gia nhập Hội nhạc sĩ Việt Nam tiếp tục sáng tác  những ca khúc được công chúng yêu mến: Thắm đượm duyên quê Lêna Bêlicơva. Nhà xuất bản âm nhạc (Bộ VHTT) đã xuất bản tập tuyển ca khúc Cho trái đất này vui (1990) và Tập trường ca Phạm Thế Mỹ (1996).

Nghỉ hưu Phạm Thế Mỹ  sống âm thầm tại một căn nhà nhỏ tại Quận 4 Thành phố Hồ Chí Minh. Ông mất vào lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 1 năm 2009 sau một thời gian dài bị bệnh ở tuổi 79.


Bông hồng cài áo


Một bông Hồng cho em

Một bông Hồng cho anh
Và một bông Hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm
Mẹ Mẹ là giòng suối dịu hiền
Mẹ Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối
Mẹ Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời
Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu nhìn thật lâu
Rồi nói nói với Mẹ rằng "Mẹ ơi Mẹ ơi Mẹ có biết hay không ?"
-Biết gì ? "Biết là biết là con thương Mẹ không ?"
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.





Những ngày xưa thân ái
Những ngày xưa thân ái anh gởi lại cho ai
Gió mùa xuân êm đưa rung hàng cây lưa thưa
Anh cùng tôi bước nhỏ áo quần nhăn giấc ngủ
Đi tìm chim sáo nở ôi bây giờ anh còn nhớ ?
Những ngày xưa thân ái
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho ai
Trăng mùa thu lên cao khóm dừa xanh lao xao
Anh cùng tôi trốn ngủ ra ngồi hiên lá đổ
Trong bầy chim trắng hiền mơ một nàng tiên dịu hiền
Đêm đêm nằm nghe súng nổ giữa rừng khuya thác đổ anh còn nhắc tên tôi ?
Đêm đêm nhìn trăng sáng tỏ bên đồi hoa trắng nở cuộc đời anh có vui ?
Thời gian qua mau tìm anh nơi đâu
Tôi về qua xóm nhỏ con đò nay đã già
Nghe tin anh gục ngã
Dừng chân quán năm xưa
Uống nước dừa hay nước mắt quê hương
Những đường xưa phố cũ thôi nỡ đành quên sao
Xin gọi lại tên anh giữa trời sao long lanh
Anh giờ yên giấc ngủ tôi nằm nghe súng nổ
Như lời anh nhắc nhở ôi câm hờn dâng ngập lối
Những ngày xưa thân ái xin buộc vào tương lai
Anh còn gì cho tôi tôi còn gì cho em
Chỉ còn tay súng nhỏ giữa rừng sâu giết thù
Những ngày xưa thân ái xin gởi lại cho em




Người về thành phố

Người đã đi đi trên non cao
Nay đã về trên đồng ruộng sâu
Nay đã về trên thành phố mới
Cả trời xanh dâng cho quê hương
Đem máu mình nuôi lại tình thương
Đem máu mình nuôi ngày hoà bình
Người đã đi người đã tới
Trời Việt Nam hôm nay đổi mới
Mặt trời ơi Loài người ơi
hát vang lên cho thoả niềm vui
Người người vui nhà nhà vui
đèn đèn hoa theo ra ngõ tối
Người về đây rừng cờ bay
nắm tay nhau xây lại Việt Nam
Từ biển xa lên trên non cao
máu các anh thấm vào ruộng sâu
thấm trong tim tươi ngọn lúa mới
Nụ cười trên môi em thân yêu
trên nẻo đường quê mẹ tàn hoang
trên đất khô đã thành ruộng vàng
Ruộng đồng ơi thị thành ơi
Trời Việt Nam hôm nay rực sáng
Nhà của ta ruộng của ta
cánh tay ta xây lại đời ta
Bạn bè ơi kẻ thù ơi
Đường Việt Nam thênh thang ngàn lối
Người đã đi Người đã tới
bước chân anh nối lại Việt Nam.





Đường về hai thôn

Đường về thôn em duyên dáng bên ven sông con thuyền xuôi mái.

Nhịp cầu băng qua men lối đi quanh có ngõ hoa nối dài.

Nhà em cuối xóm ghép đôi mái tranh nâu trăng cày trước sau

Có tằm mến nương dâu

Có trầu vấn vương cau

Và đào tơ thơm ngát ngát hương trinh ban đầu.
Đường về thôn anh con sáo ru êm êm trên đồng xanh lúa

Nhịp cầu băng qua đua tới sân rêu xưa thắm hoa bốn mùa .

Nhà anh mái lá tháng năm vẫn chưa nghe duyên trọn ước mơ

Có giàn mướp xanh lơ

Có hồ cá nên thơ

Và lòng quê vẫn hát hát đôi câu mong chờ.
Mỗi đêm thanh trăng ngà hội mùa lên tiếng ca góp đôi tay cần lao.

Ôi hai thôn giao đầu nhip cầu nhip cầu che bước chung thêm vui dường bao.

Tình ta lên men rồi

Còn chi ngăn cách lòng

Mà chưa trao giấc mơ xuân cùng nhau.

Trời dâng lên trăng màu

Bà con đang mong cầu

Rằng đôi ta sớm nên duyên ban đầu.
Đường về hai thôn mai mốt đôi uyên ương qua cầu soi bóng

Nhủ thầm sông ơi gương nưóc chưa phôi phai ta còn vui hoài.

Trời quê bát ngát sẽ trong thấy tương lai qua tình lứa đôi.

Lúa đồng mãi xanh tươi

Mướp cà thắm nơi nơi

Và vành môi trai gái hát câu ca yêu đời.
.... Nhịp cầu đưa lối chung bước hai thôn ta đón trăng về...mừng duyên quê....





Trăng tàn trên hè phố

Tôi lại gặp anh người trai nơi chiến tuyến súng trên vai bước về qua hè phố.

Tôi lại gặp anh giờ đây nơi quán nhỏ tuổi ba mươi mà ngỡ như trẻ thơ.

Nhớ gì từ ngày anh ra mái trường

Nhớ gì từ ngày anh vui lên đường

Lối về nhà anh hoa phượng thắm

Màu xanh áo người thương

Nắng chiều đẹp quê hương

hay nhạc buồn đêm thương.

Tôi lại gặp anh trời đêm nay sáng quá ánh trăng như hé cười sau màn lá.

Tôi lại gặp anh đường khuya vui bước nhỏ kể nhau nghe chuyện cũ bao ngày qua

Lối gầy về nhà anh hoa vẫn nở

Kỷ niệm từ ngày xưa chưa xóa mờ

Ánh đèn vàng từ ngoại ô vẫn còn đó

sống cuộc đời hôm nay với bọn mình đêm nay.

Anh sống đời trai giữa núi đồi.

Tôi viết bài ca xây đời mới

Bờ tre quê hương tay súng anh gìn giữ

Tôi hát vang giữa trời để người vui.
Thôi mình chia tay

Cầu mong anh chiến thắng

Ánh trăng khuya sắp tàn trên hè phố.

Thôi mình chia tay

Rồi mai đây có về

Quà cho tôi anh nhớ chép bài thơ.

Nắng đẹp của bình minh đang hé cười.

Nỗi buồn vui biệp ly sẽ xóa mờ

Súng từ rừng sâu vẫn còn đó

Đừng lưu luyến gì đây

Thôi bọn mình chia tay

Thôi bọn mình chia tay...
            
            

More...

Thơ từ gmail.com !

By Truong Van Khoa

                

Blog của Khoa hiếm thơ. Hay nói đúng hơn trang truongvankhoa.vnweblogs.com không có thơ tình. Đây là một thiếu sót và cũng là một khiếm khuyết trong văn chương blog. Thấy người ta viết thơ nhiều quá lại muốn bình. Đôi khi bình thơ lại cảm thấy hào hứng khí thế hơn làm thơ cho dù đôi lần Khoa đã cố gắng hết sức. Âu cũng là một tật nguyền !

Một hôm bất chợt search lại trong hộp thư gmail giống như ngày xưa tuổi học trò chúng ta thường lục lọi sách vở cũ Khoa tình cờ đọc được một email của một bạn đọc gởi đến cách đây không lâu.  Tác giả có lẽ là một người phụ nữ vì lời thơ ý tứ nhẹ nhàng trau chuốt và thanh thoát. Không để lại tên tuổi điện thoại nơi cư trú nhưng có một điều chắc rằng thi nhân là người thật việc thật sống quanh đây hay đang ở một nơi nào đó rất xa xôi ...

Cất trong ngăn kéo e rằng thơ bị quên lãng chi bằng viết lên thành một entry để lưu giữ sẽ tốt hơn. Chỉ có một điều bloger sợ tác giả không muốn...

Chợt nhớ vào khoảng giữa năm 1938 cách đây hơn 70 năm T.T.KH đã từng làm xôn xao thi đàn và giới văn nghệ sĩ bởi 4 bài thơ nàng gởi đến cho tòa soạn "Tiểu thuyết thứ bảy". Trong đó "Bài thơ cuối cùng" T.T.Kh. trách người tình cũ đã đem thơ của nàng lên mặt báo làm lộ chuyện thầm kín cho khắp người đời thóc mách xem:

"Trách ai mang cánh "ti gôn" ấy
Mà viết tình em được ích gì ?"

Thơ phú làm ra cho mọi người thưởng thức là một điều thú vị. Nhưng của người ẩn danh gởi cho mình post lên cho người khác đọc lại càng thấy thu vị hơn !


            
              DẤU LẶNG

Ta chông chênh trong men nồng

Vô tình bỏ quên khoảng trống

Em một mình nghe nhạc

Giữa im lìm thinh không

Có hợp âm nào

Gieo vào lòng em

Nỗi nhớ?

Có chút muộn phiền nào bỡ ngỡ

Đậu bên thềm mùa xuân?

Khi ta trở về

Trạng thái nửa bình yên

Vẫn không gian buổi chiều

Và giai điệu cũ...

Nhưng giữa lòng ta

Hình như chỉ còn

Một dấu lặng đơn côi...



              TỪ MỘT DÒNG SÔNG

Lần đầu về với sông Hàn

Sao em đem kéo cắt ngang giữa dòng

Bây giờ nửa đục nửa trong

Anh về khâu lại với lòng riêng mang...

Cho em một chút muộn màng

Cho em một chút dở dang ở đời

Cho em một chút đầy vơi

Phố đêm có giữ mấy lời yêu thương?

Không gian bất chợt rộng thêm

Khi em tôi khóc gọi tên nỗi buồn

Hồn anh mỏng tựa cánh chuồn

Ngỡ ngàng gặp gió...mấy lần chao nghiêng!


            
              MƯỜI PHƯƠNG

Nơi cuối trời lận đận

Tình cờ bỗng gặp nhau

Giữa nỗi buồn thân phận

Thương cảm một niềm đau.

Anh lặng tìm dĩ vãng

Đời cho toàn muộn phiền

Đôi khi người hóa dại

Chạy trên bờ cuồng điên

Em từ xa xăm đến

Mang nỗi sầu nhân gian

Còn vương nơi đáy mắt

Thoáng ưu tư bẽ bàng

Đâu chỉ cho và nhận

Cái quí là hiểu nhau

Hồn anh trong bất tận

Phương nào em có hay?

 

More...

Câu chuyện tổ chức

By Truong Van Khoa


            
(Bài viết đã được đăng trên Báo Doanh Nghiệp Chủ Nhật số 32 - 2010 ra ngày 8.8.2010)               

Một quyết định nhân sự có thể đẩy một con người và gia đình người đó đến bước đường cùng. Bố trí con người không đúng chổ có thể gây ra tai hoạ cho doanh nghiệp tổn thất về tài sản và ảnh hưởng đến hàng trăm thậm chí hàng ngàn người làm công ăn lương. Sự cố ý hay vô tình trong trường hợp này đều là tội lỗi !

Công tác nhân sự và chiến lược bố trí nguồn nhân lực trong giai đoạn hiện nay đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta dang cần những "cái đầu" nhạy bén về công tác tổ chức trong giai đoạn cạnh tranh khốc liệt chứ không cần sự toan tính thâm hiểm những mưu mô xảo quyệt vì lợi ích cá nhân và lòng tham không bao giờ cạn.

Hãy vì lợi ích chung của doanh nghiệp hành động chứ không nói nhiều để có một guồng máy vận hành hiệu quả cứu doanh nghiệp thoát khỏi bờ vực phá sản. Nếu được như vậy những người đang ngồi đây sẽ tâm phục khẩu phục muôn đời. Cho dù hàng trăm năm năm sau họ sẽ được ngợi ca thay vì lời nguyền rủa !

Bố trí nhân sự đúng người đúng việc đúng tầm là một một khoa học thật sự chứ không phải là một "đống thịt" muốn xáo cách gì muốn dọn lên bàn kiểu gì cũng được. Một chủ thầu khi xây dựng một ngôi nhà phải "nặn óc" để bố trí các công nhân đúng nơi đúng chổ. Nếu ông ta ngớ ngẫn bố trí nhầm người thợ nề vào làm điện gã ta sẽ chết ngay lập tức vì không hiểu gì về "nghiệp vụ điện". Nói thế để hiểu rằng người làm công tác tổ chức có thể gây "chết người" nếu không biết gì về quản trị nhân sự.

Sự thất bại của một doanh nghiệp những sự cố trong quá trình kinh doanh như: Thua lỗ thất thoát tài sản mất vốn tham nhũng ... đều có nguyên nhân bắt nguồn từ khâu tổ chức bố trí công việc tréo cẳng ngổng vá víu tạm bợ râu ông này cắm cằm bà kia ...Và tất nhiên bô máy làm việc sẽ khập khiễng ì ạch kém hiệu quả. Có những trường hợp đáng tiếc xảy ra không những mất tài sản mà còn mất cả con người. Tiên trách kỷ hậu trách nhân đừng trách những người dưới quyền mà hãy trách chính mình vì chính chúng ta đã "đưa đường dẫn lối" và quyết đặt họ vào những chổ ngồi không phù hợp nếu không nói là vô hậu.  


               
               Đụng đến con người là đụng dến cả một cuộc đời. Bóng tối hoặc ánh sáng của một sự nghiệp đều bắt đầu từ công tác tổ chức hay nói đúng hơn là từ những con người có quyền "sinh sát" chọn người này hoặc đẩy người kia.

Một trong những vấn đề nhạy cảm nhất của công tác tổ chức là vai trò của sự thiên vị. Liệu có thích hợp khi một ai đó nên được đề bạt thăng tiến đơn giản bời vì họ làm việc gần gũi quen biết hay nịnh bợ các giám đốc trên phương diện cá nhân? Một "trái cấm" đối với giám đốc là đề bạt tiến cử những người thân trong gia đình bạn đồng môn những nhân viên có cùng sở thích suy nghĩ giống mình lên những chức vụ cao hơn. Rõ ràng đây là một thiên vị nguy hiểm thiếu khách quan trong đánh giá hành động thiếu sự quan tâm tới việc các cá nhân thích hợp với văn hoá doanh nghiệp ra sao ? Nguy hiểm hơn cả các giám đốc doanh nghiệp đang loại bỏ đi các thông tin quan trọng mà có thể họ không muốn nghe.

Đỉnh cao hoặc vực thẳm trên con đường quan lộ của một đời người  phần nào phụ thuộc vào sự tiến cử cất nhắc và định đoạt của một tổ chức. Quyền năng có thể đem đến cho ta sự vinh quang nhưng cũng có thể đưa ta đến bên kia bờ ảo vọng. Một doanh nghiệp có nhiều nhân viên ra đi chỉ mỗi một việc là bố trí con người không đúng nơi đúng chổ. Bị kịch của sự cống hiến trong nhiều năm của một số nhân viên đã trở thành con số zero to tướng bởi sự độc đoán chuyên quyền bất chấp dư luận đạp đổ các nguyên lý sơ đẳng của khoa học quản trị nhân sự.

Và như thế kẻ nào gieo ắt gặp quả ! Thuyết nhân quả đã có từ mấy ngàn năm trước và chưa bao giờ sai !

More...

Hoàng Dương với ca khúc "Hướng về Hà Nội"

By Truong Van Khoa

                

Hơn 50 năm trước vào một đêm bom đạn tơi bời của người Pháp dội về Hà Nội từ bên kia thành phố nhạc sĩ Hoàng Dương đã xúc cảm viết nên ca khúc "Hướng về Hà Nội" trong nỗi nhớ vô bờ của một thời  ly hương loạn lạc...


            Hoàng Dương
tên đầy đủ Ngô Hoàng Dương con trai của nhà văn Trúc Khê Ngô Văn Triện.  Hoàng Dương là một nghệ sĩ đàn cello người có công đầu xây dựng bộ môn cello khoa đàn dây tại Nhạc viện Hà Nội nhận được các danh hiệu nghệ sĩ ưu tú phó giáo sư.

Ông viết nhiều tác phẩm khí nhạc như: Hát ru Mơ về trái núi Thiên Thai (cello và piano) Tiếng hát sông Hương (cello và dàn nhạc)... Hoàng Dương viết không nhiều  2 ca khúc nổi tiếng được mọi người biết dén là "Hướng về Hà Nội" với điệu slow "Tiếc thu" điệu tango cả hai đều có âm hưởng buồn giọng "Mineur".


            
            Hoàng Dương tâm sự vào những năm 1953 - 1954 khi anh đang hoạt động cách mạng tại đội tuyên truyền văn nghệ Thành bộ Hà Nội chiến tranh đang nổ ra hết sức quyết liệt đội của ông phải thường xuyên chạy trốn với sự truy đuổi của quân thù. Lúc bấy giờ Hoàng Dương có yêu một người em gái ở nội thành tình yêu thời chi
ến chinh rất đẹp và lãng mạn. Vào một đêm khuya khi đang túc trực tại nhà một người dân nơi ngoại thành trong tiếng pháo dội về thành phố anh bồi hồi nhớ đến người em gái Hà Nội. Không nén được xúc cảm ông liền ngồi vào bàn viết lên những dòng nhạc đầu tiên cho bài hát "Hướng về Hà Nội". Cảm xúc đến tự nhiên dạt dào nên nhạc sĩ sáng tác rất nhanh và hoàn tất ca khúc ngay trong đêm hôm đó.


            Nhà thơ
Ý Nhi đã có lần nói: "Hà Nội của nhạc sĩ Hoàng Dương là một người tình". Ca khúc "Hướng về Hà Nội" ghi dấu 2 lần ra đi. Lần thứ nhất năm 1947 ông tản cư xa Hà Nội. Lần thứ 2 năm 1953 Hoàng Dương trở lại hoạt động cách mạng ở nội thành lúc đó anh yêu một người con gái Hà Nội   bị địch phát hiện Hoàng Dương  bỏ trốn....


            Đến năm 1954 bài hát mới được phổ biến rộng rãi và nổi tiếng qua giọng hát của Kim Tước. Tuy nhiên với "nỗi buồn tiểu tư sản" thời bấy giờ bài hát "Hướng về Hà Nội" không được biểu diễn công khai trong một thời gian khá dài. Rất may những ca từ mượt mà và giai điệu ngọt ngào vẫn âm ỉ chảy trong lòng những những người con của Hà Nội... 


            Có một lần nhà thơ Quang Dũng đến chơi với tài tử Ngọc Bảo. Sau khi được nghe Ngọc Bảo hát bài hát của Hoàng Dương Quang Dũng đã nhờ Ngọc Bảo nhắn với Hoàng Dương rằng ông rất muốn nhạc sĩ đến chơi nhà của ông. Mấy ngày sau Hoàng Dương tìm đến nhà thơ Quang Dũng đã ôm chầm lấy và bảo: "Cảm ơn Dương mặc dù mới được gặp cậu lần đầu nhưng tâm hồn của chúng ta đã rất giống nhau. Tớ cảm nhận được rất nhiều sự đồng điệu trong đó". 


            
            Ca khúc "Hướng về Hà Nội" do Tinh Hoa Miền Nam xuất bản ngoài bìa có hình vẽ một thiếu nữ chít khăn "mỏ quạ" màu nâu nhạt do hoạ sĩ Duy Liêm trình bày. Bên trong bài hát phía trên cùng có câu: "Riêng tặng Hoàng Trọng bạn thân yêu gửi đây niềm thương nhớ một mùa chia phôi...". Hoàng Trọng lớn tuổi hơn Hoàng Dương nhưng 2 người là bạn văn nghệ với nhau bản nhạc "Nhạc sầu tương tư" nổi tiếng khi xưa của Hoàng Trọng là do Hoàng Dương viết lời.


            40 năm sau những năm cuối cùng của thế kỷ 20 bài hát mới được "minh oan" và đón nhận nhiều sự chia sẻ của khán giả. Các nhà phê bình âm nhạc đã không tiếc lời nhận định "Hướng về Hà Nội" là sự kết tinh tài hoa lắng đọng trong không gian thời gian và linh thiêng của sông núi.


            Rất nhiều ca sĩ đã trình bày bản nhạc:"Hướng về Hà Nội" như: Tuấn Ngọc Quang Dũng Hồng Nhung Thanh Thuý ...Tuy nhiên để ru hết phần hồn của bản nhạc chúng ta phải nói đến giọng ca điêu luyện mê hoặc lòng người của nữ danh ca Lệ Thu.

            
                                           (Nữ danh ca Lệ Thu)   
         
            
            
                        

            Hướng về Hà Nội

            Hà Nội ơi hướng về thành phố xa xôi
            Ánh đèn giăng mắc muôn nơi áo màu tung gió chơi vơi
            Hà Nội ơi phố phường dài ánh trăng mơ
            Liễu mềm nhủ gió gây thơ thấu chăng lòng khách bơ vơ

            Hà Nội ơi những ngày vui đă ra đi
            Biết người có nhớ nhung chi
            Hết rồi giây phút phân ly
            Hà Nội ơi dáng huyền tha thướt đê mê
            Tóc thề thả gió lê thê
            Biết đâu ngày ấy anh về

            Một ngày mùa chinh chiến ấy
            Chim đã xa bầy mịt mờ bên trời bay
            Một ngày tả tơi hoa lá
            ngóng trông về xa ... luyến thương hình bóng qua

            Hà Nội ơi nước hồ là ánh gương soi
            Nắng hè tô thắm lên môi thanh bình tiếng guốc reo vui
            Hà Nội ơi kiếp đời muôn hướng buông trôi
            Nhớ về người những đêm rơi
            Nhắn theo ngàn cánh chim trời

            Hà Nội ơi hướng về thành phố xa xưa
            Mắt buồn lồng những đêm mưa
            Não nùng mây gió đong đưa

            Hà Nội ơi nỗi lòng gởi gấm cho nhau
            nhớ hoài chỉ biết thương đau
            đắng cay chờ những kiếp sau.

            Hà Nội ơi những ngày thơ ấu trôi qua
            mái trường phượng vĩ dâng hoa
            dáng chiều ủ bóng tiên nga.

            Hà Nội ơi mắt huyền ngây ngất đê mê
            tóc thề thả gió lê thê cứ tin ngày ấy anh về

            Một ngày tàn cơn chinh chiến
            lửa khói lăn chìm tìm về nơi bờ bến
            Một ngày hồng tươi hoa lá
            Hát câu tình ca nói lên lời thiết tha

            Hà Nội ơi biết người còn có trông mong
            Hướng về ai nữa hay không những ngày xa vắng bên sông.

            Hà Nội ơi những chiều sương gió dâng khơi
            Có người lặng ngắm mây trôi
            Biết bao là nhớ tơi bời ... 

            
            
            

More...

Phụ nữ Hồi giáo và chiếc khăn choàng bí ẩn

By Truong Van Khoa

                

Trong một lần đi tập huấn ngành ngân hàng tại Indonesia nơi có người Hồi giáo đông nhất thế gới (86 10% dân số là tín đồ Hồi giáo) bloger đã đến rất nhiều nơi để tìm hiểu xứ sở của kinh Koran. Có nhiều điều mới lạ nhưng hình ảnh người phụ nữ trong bộ trang phục rộng với chiếc khăn trùm kín đầu và cổ hay với cả chiếc mạng che kín khuôn mặt đã trở thành hình ảnh đặc trưng của người phụ nữ Hồi giáo. Vậy tục lệ này bắt nguồn từ đâu và có từ bao giờ?

Có nhiều giả thiết về sự ra đời của trang phục che kín mặt của phụ nữ Hồi giáo.

Trước hết đó là do niềm tin tôn giáo. Thông thường theo truyền thống đạo Hồi thì việc đeo mạng che mặt là điều bắt buộc với quan niệm rằng sự tôn trọng gia đình nằm ở hành động của người phụ nữ đó. Danh dự của người phụ nữ ảnh hưởng đến danh dự uy tín của gia đình và dòng họ danh dự người phụ nữ phụ thuộc vào phẩm giá tiết hạnh của mình. Nếu người phụ nữ vi phạm những điều cấm đó thì người đàn ông trong gia đình có thể bị coi là yếu ớt hèn nhát và có thể bị xã hội tẩy chay. Do vậy để được đàn ông coi trọng và bảo vệ thì người phụ nữ không được để mọi người thấy mặt nơi công cộng. Đồng thời do đeo mạng người phụ nữ cũng giúp cho người đàn ông khỏi bị nhục dục cám dỗ. Ngoài ra việc đeo mạng là hình thức mang lại tự do cho phái yếu vì họ sẽ yên tâm hòa mình vào đời sống cộng đồng Và một yêu cầu quan trọng nữa được kinh Koran nhắc đến là người phụ nữ phải ăn mặc hết sức giản dị kín đáo nơi công cộng.


     " Bloger (đứng) và các nhân viên của ngân hàng Indonesia trong trang phục Hijab"
            
            Ngoài lý do nguyên tắc tôn giáo thì sự xuất hiện mạng che mặt cũng liên quan đến nhiều truyền thuyết trong dân gian. Có truyền thuyết nói rằng vua Ba Tư tài giỏi Tamerlane (1336 - 1405) có rất nhiều cung tần mĩ nữ xung quanh nhưng vua quý nhất và sủng ái nhất là mỹ nhân Bibi Khanym. Tuy nhiên Tamerlane lại quá tham vọng thường đi chinh phục những vùng đất mới khiến nàng cảm thây vô cùng cô đơn. Một lần khi Tamerlane đang đi xa nàng muốn mang lại điều bất ngờ cho nhà vua nên đã cho xây một thánh đường. Trong số những thợ tài hoa nhất có một kẻ say mê sắc đẹp của nàng và hắn đã đưa ra yêu cầu là nếu không cho hắn hôn thì thánh đường sẽ không hoàn thành đúng thời hạn. Vì quá sốt ruột nên nàng đành chấp nhận. Tuy nhiên nụ hôn của người thợ kia trên má nàng đã không thể tẩy xoá được. Tamerlane biết chuyện vô cùng tức giận đã ra lệnh giam gã thợ vào ngục và buộc tất cả phụ nữ trong nước phải che mặt mỗi khi ra đường hay gặp người lạ. Chỉ có người chồng mới có đặc quyền ngắm vợ mình. Termaline cho rằng sắc đẹp của người phụ nữ là nguồn gốc của mọi tội lỗi. Tập quán đeo mạng che mặt của người phụ nữ Hồi giáo ra đời từ đấy.

Một truyền thuyết khác nữa là tại vùng Cận Đông các đời vua Assyrian đã buộc phụ nữ phải đeo mạng che mặt vì coi nó liên quan chặt chẽ đến sự riêng tư của người phụ nữ trong hậu cung. Tuy nhiên gái điếm và nô lệ lại không được yêu cầu đeo mạng và sẽ bị đánh nếu vi phạm luật này. Do đó mạng che mặt trở thành biểu tượng cho phảm giá của người phụ nữ. Còn ở thế kỉ 2 Hồi lịch tại Thổ Nhĩ Kỳ mạng che mặt lại tượng trưng cho sự giàu có và quyền lực của người phụ nữ quý tộc.

Việc đeo mạng che mặt còn do các quy định trong xã hội Hồi giáo. Đến khoảng thế kỉ thứ 10 thì hàng loạt các luật mới được ban hành khiến người phụ nữ gặp nhiều bất lợi hơn trong xã hội so với trước đó. Trong một số thời kỳ chẳng hạn triều Mamluks ở Ai Cập đã liên tiếp ban hành các điều luật hết sức hà khắc buộc phụ nữ phải đeo mạng che mặt khi ra khỏi nhà và không cho phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội.


     (Phụ nữ Hồi giáo trong trang phục Burka)
            
            Còn sự phát triển mạnh mẽ thực sự của hijab xuất hiện cùng với cuộc cách mạng Iran. Phụ nữ được xem là nhân tố chính trong những thay đổi về đạo đức và các hành vi cá nhân. Những người phụ nữ không đeo mạng che mặt thường bị chế nhạo và bị gọi là "búp bê vẽ" và bị trừng phạt nếu xuất hiện nơi công cộng mà không che mặt. Còn ở các nước Hồi giáo khác thập niên 70 thế kỉ trước các cuộc tuần hành đã diễn ra liên tục nhằm chống lại việc yêu cầu các nữ sinh đại học và công chức ăn mặc theo phong cách phương Tây.

Tuy nhiên phụ nữ Hồi giáo đeo mạng che mặt còn do chịu ảnh hưởng quá sâu sắc về truyền thống từ các thế hệ trước và họ coi đó như là một điều hiển nhiên không thể thay đổi. Chẳng hạn đến đầu thế kỉ XX các điều luật bắt buộc phụ nữ che kín mặt đựơc nới lỏng ở Thổ Nhĩ Kỳ hay những năm 1930 ở Iran Reza Shah Pahlevi xoá bỏ tục đeo mạng che mặt nhưng phụ nữ đón chào tin này không phải với sự sung sướng mà là sự sợ hãi. Có người còn không dám ra khỏi nhà vì sợ tấm mạng che mặt của mình sẽ bị cảnh sát xé bỏ. Khi nhiều nhà lãnh đạo ở các nước Hồi giáo bắt đầu khuyến khích phụ nữ tham gia công tác xã hội và xuất hiện tự do hơn nơi công cộng thì nhiều phụ nữ Hồi giáo trí thức cũng đã bắt đầu ra khỏi nhà mà không đeo mạng nhưng vẫn mặc Hijab. Năm 1910 lần đầu tiên một phụ nữ trẻ người Thổ Nhĩ Kỳ đã dám chụp ảnh khuôn mặt mình.

Trang phục truyền thống của phụ nữ Hồi giáo có 7 loại với nhiều cách choàng khăn khác nhau : 


            -
Hijab tiếng Ảrập (hay Jilbab tiếng Indonesia) có nghĩa là khăn che mặt để chỉ các loại khăn choàng của phụ nữ Hồi giáo. Những khăn choàng này có nhiều kiểu và màu sắc khác nhau. Kiểu được sử dụng thông thường nhất tại phương Tây là khăn hình vuông che đầu và cổ nhưng để hở mặt.


            -
Niqab là mạng che mặt chỉ để hở mắt có thể được dùng với một mạng che mắt riêng. Khăn này cũng có thể được dùng cùng với một khăn chùm đầu.


            -
Burka là loại khăn chùm kín nhất trong các loại khăn choàng Hồi giáo. Khăn này chùm kín cả mặt và người và có một tấm lưới dầy che vùng mắt để người sử dụng có thể nhìn ra qua tấm lưới này. Thời Taliban ở Afghanistan hầu hết các phụ nữ đều sử dụng trang phục này.


            -
Al-amira là khăn phủ gồm 2 mảnh một khăn choàng quấn vừa vặn trên đầu thường làm bằng vải cotton hay vải pha nylon kèm theo là một khăn choàng hình ống.


            - Shayila là khăn dài rất phổ biến ở vùng vịnh. Khăn này được quấn qua đầu và được gài hay ghim để giữ qua vai


            -
Khimar loại khăn chùm dài kiểu áo choàng xuống tại ngang hông. Khăn này che hoàn toàn tóc cổ và vai phụ nữ.


            -
Chador (hay Chadar theo tiếng Indonesia) được nhiều phụ nữ Iran sử dụng khi ra đường. Đây là một áo choàng kín. Nó thường được dùng cùng với một khăn quàng đầu nhỏ hơn bên dưới.

More...

Anh Bằng với những tình khúc nổi tiếng !

By Truong Van Khoa

                

Anh Bằng tên thật là Trần An Bường sinh năm 1925 tại thị trấn Điền Hộ thuộc tỉnh Ninh Bình gần ranh giới tỉnh Thanh Hóa cách Hà Nội khoảng 100 cây số về phía Nam. Ông theo học trung học ở Hà Nội trước khi theo gia đình di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở Sài Gòn cho đến năm 1975.

Trong thời kỳ 1954 - 1975 nhạc sĩ Anh Bằng rất nổi tiếng với nhiều tác phẩm sáng tác và phổ nhạc. Các tác phẩm như Nếu vắng anh (phổ từ bài "Cần thiết" của nhà thơ Nguyên Sa) Hoa học trò (Bây giờ còn nhớ hay không?) Người thợ săn và đàn chim nhỏ... đã được các ca sĩ Tuấn Ngọc Ngọc Lan Khánh Ly... thể hiện rất thành công.

Năm 1966 Anh Bằng cùng với hai nhạc sĩ khác là Lê DinhMinh Kỳ thành lập một nhóm sáng tác nhạc ký chung tên là Lê Minh Bằng. Các hoạt động chính của nhóm bao gồm:
            -
Mở lớp dạy nhạc có tên là "Lớp Nhạc Lê Minh Bằng" tại địa chỉ số 102/8 đường Hai Bà Trưng Tân Định Sài Gòn. Ba nhạc sĩ thay phiên nhau giảng dạy về lý thuyết (nhạc lý ký âm) và thực hành (luyện giọng xướng âm). 
            -
  Thành lập ban nhạc "Sóng Mới" chuyên trình diễn trên đài phát thanh Sài Gòn
            -
Cố vấn cho giám đốc hãng đĩa hát Asia là ông Nguyễn Tất Oanh trong việc lựa chọn bài hát và ca sĩ. 
            -
 Phụ trách trong việc tổ chức chương trình "Tuyển Lựa Ca Sĩ" được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh do Đài Phát Thanh Sài Gòn thực hiện.
            -
Sáng tác xuất bản và phổ biến nhiều ca khúc mới dưới nhiều bút hiệu khác nhau: Lê Minh Bằng Vũ Chương Mạc Phong Linh Mai Thiết Lĩnh Mai Bích Dung Dạ Ly Vũ Dạ Cầm Giang Minh Sơn Hoàng Minh Trần An Thanh Tây Phố Trúc Ly Tôn Nữ Thụy Khương Phương Trà Huy Cường... Trong đó tác phẩm nổi tiếng nhất có lẽ là Chuyện tình Lan và Điệp.

Năm 1975 Anh Bằng cùng gia đình di tản sang Mỹ ở độ tuổi 50 và vẫn tiếp tục hoạt động âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassette Dạ Lan (1981 - 1990). Thời gian sau này ông cộng tác với Trung tâm Asia. Thời kỳ tại hải ngoại ông sáng tác nhiều ca khúc đáng kể có Anh còn nợ em Căn gác lưu đày Chuyện giàn thiên lý Khúc thụy du Kỳ diệu Mai tôi đi...

Sau năm 1975 nhạc của ông bị cấm lưu hành tại Việt Nam nhưng gần đây một số ca khúc đã được Đàm Vĩnh Hưng Hồng Ngọc... hát lại.

Có thể nói rằng bài hát được mọi người biết đến nhiều nhất là ca khúc "Nỗi lòng người đi" được Anh Bằng sáng tác khi di cư vào Nam Tuấn ngọc là người thể hiện thành công nhất bài này :


                            (Ca sĩ Tuấn Ngọc)
Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành khói tan theo mây chiều
Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
Ai đứng trông ai ven hồ khua nước trong như ngày xưa
Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy
Bạn lòng ơi! Ngày ấy tôi mang cây đàn quen sống ca vui bên nàng
Nay khóc tơ duyên lìa tan
Giờ đây biết ngày nào gặp nhau
Biết tìm về nơi đâu ân ái trao nàng mấy câu
Thăng Long ơi! Năm tháng vẫn trôi giữa giòng đời ngậm đắng nuốt cay nhiều rồi
Hồ Gươm xưa vẫn chưa phai mờ
Hôm nay Sài Gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui
Nhưng riêng một người tâm tư sầu vắng đi
trong bùi ngùi
Sài Gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời
Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi 


            Một trong ca khúc nổi tiếng sau này được Anh Bằng chuyển thể từ bài thơ Paris của nhà thơ Nguyên Sa thành nhạc phẩm Mai tôi đi. Khi nghe Nguyễn Hồng Nhung chúng ta mới thấy được nỗi buồn và cô đơn của sự chia xa :


                         (Ca sĩ Nguyễn Hồng Nhung)

Mai tôi đi chắc trời giăng mưa lũ
Mưa thì mưa chắc tôi không bước vội
Nhưng chẳng thế nào
Thì cũng sẽ xa nhau
Mình cũng sẽ xa nhau

Mai tôi đi chắc rằng Paris khóc
Nhưng lệ rơi sẽ khô theo tháng ngày
Cho dù cách nào
Thì cũng sẽ xa nhau
Mình cũng sẽ xa nhau

Mai tôi đi xin đừng nhìn theo xin đừng đợi chờ
Đời trăm muôn góc phố
Con đường dài thật dài
Thầm mãi có bao nhiêu
Thầm mãi có bao nhiêu

Mai tôi đi xin đừng gọi tên
Thêm nhiều muộn phiền
Dù môi kêu đắm đuối
Hay mặn nồng một trời
Cùng đành lòng xa thôi
Cũng đành lòng xa thôi

Mai tôi đi chắc dòng sông Seine nhớ
Nhưng dù sao nhớ nhung rồi sẽ mờ
Muôn vạn u sầu
Rồi cũng sẽ xa nhau
Mình cũng sẽ xa nhau


            
            Tại hải ngoại ông cùng với người con trai Trần Ngọc Sơn viết tiếp ca khúc được mọi người rất ưa thích đó là bản "Hạnh phúc lang thang". Bản nhạc này được ca sĩ Hồ Hoàng Yến thể hiện với tất cảm xúc vốn có và tài năng thật sự:

                     
                                        (Ca sĩ Hồ Hoàng Yến)
            
                     Ngày ấy em như hoa sen mang nhiều giáng hiền những khi chiều lên
            Ngày ấy em như sương trong nép trên bông hồng mượt trên cánh nhung
            Ngày ấy em như cung tơ cho đời thẫn thờ cho tôi dệt mơ
            Đường khuya tay đan ngón tay ước cho đời ước mơ dài

            Nhưng năm tháng vô tình mà lòng người cũng vô tình rồi màu úa thay màu xanh
            Người yêu xa bến mộng đò xưa đã sang sông dòng đời trôi mênh mông
            Giáng xưa nay xa rồi đường khuya mưa rơi rơi 
            Phố xưa quên một người bàn chân gieo đơn côi
            Gió mang theo cơn lạnh về rót lệ trên môi

            Ngày ấy yêu em say mê tôi nào nghĩ gì đến câu từ ly
            Tình ái không xanh như thơ đến chung hơi thở rồi trôi rất xa
            Hạnh phúc lang thang như mây cho hồn héo gầy khi ta còn đây
            Từng đêm qua trong giấc mơ vẫn mong
             

             Một tình khúc được mọi người biết đến là nhạc phẩm "Từ độ ánh trăng tan" được phổ từ thơ của nhà thơ Đặng Hiền. Với sự phổ nhạc tài hoa Anh Bằng đã đưa chúng ta về miền yêu thương thơ mộng.... 
            
            

                                 (Ca sĩ Lâm Nhật Tiến)
            Buồn như áo em hôm nào ướt mưa đêm 
            Sầu như dáng em nhẹ gót bước qua thềm 
            Buồn như tóc em trên đường phố mưa đêm 
            Sầu như mắt em làm rét mướt tình yêu 

            Thôi mình lỡ mất nhau rồi 
            Nát đi hy vọng ban đầu 
            Sao nụ cười tươi thắm 
            Ngày em bỏ tôi đi lấy chồng 

            Tôi trở về Half Moon Bay 
            Đếm từng con sóng biển 
            Đêm từng nỗi ưu phiền 
            Lòng buồn như sương mù 
            từ độ ánh trăng tan 

            Ngờ như tiếng em 
            trên từng bước chân mưa 
            Tưởng như đã quên 
            mà nhớ đến bao giờ 

            Tình yêu thủy tinh 
            Rơi vụn vỡ trong tim 
            Từng đêm gió mưa 
            Hồn chắp cánh tìm em.
             

              
          
            Một bản nhạc của Anh Bằng được mọi người sau này rất thích hát  đó là bản "Khùc thuỵ du" phổ từ bài thơ của Du Tử Lê. Ca khúc này được Quang Dũng trình bày với một giọng nam rất thiết tha và đầy khát vọng.

            Hãy nói về cuộc đời
            Khi tôi không còn nữa
            Sẽ lấy được những gì
            Về bên kia thế giới
            Ngoài trống vắng mà thôi
            Thụy ơi và tình ơi !

            Như loài chim bói cá
            Trên cọc nhọn trăm năm
            Tôi tìm đời đánh mất
            Trong vũng nước cuộc đời
            Thụy ơi và tình ơi !

            Đừng bao giờ em hỏi
            Vì sao ta yêu nhau
            Vì sao môi anh nóng
            Vì sao tay anh lạnh
            Vì sao thân anh rung
            Vì sao chân không vững
            Vì sao và vì sao !

            Hãy nói về cuộc đời
            Tình yêu như lưỡi dao
            Tình yêu như mũi nhọn
            Êm ái và ngọt ngào
            Cắt đứt cuộc tình đầu
            Thụy bây giờ về đâu ?
            

More...

Ngu để trị !

By Truong Van Khoa

                  
                                 "Sếp là Một là Riêng  là Thứ Nhất.
                                 Không có ai bè bạn nỗi cùng Sếp"

         "Khi bạn thuê một người thông minh hơn bạn bạn chứng tỏ rằng mình thông minh hơn họ" - (R.H.Grant)

         Việc các giám đốc doanh nghiệp sử dụng và đề bạt những kẻ bất tài kém hiểu biết không xứng tầm lên hàng ngũ trưởng phó phòng là một điều sĩ nhục đối với những  người có năng lực và tâm huyết.

         Đây cũng chính là kế sách "ngu để trị" của những lãnh đạo doanh nghiệp luôn vỗ ngực về trình độ "quản trị nhân sự" của mình. Những giám đốc này thường "bày binh bố trận" những thuộc hạ không có năng lực nhằm củng cố chiếc ghế muôn đời của mình. Ngược lại họ sẽ tìm mọi cơ hội và đẻ ra hàng lý do để đẩy những người tài càng xa càng tốt thậm chí "đá văng" ra khỏi cuộc chơi. Và như thế sẽ có nhiều kẻ uất ức ra đi vì họ không thể "bán mình" suốt đời cho một doanh nghiệp chỉ thích sử dụng những kẻ "tật nguyền" về kiến thức và "siêu" nịnh hót. 
         
Hệ luỵ của của kiểu quản trị điều hành "thích kẻ dại" là làm ăn thua lỗ ngày càng lún sâu trong vũng bùn của khủng hoảng tài chính doanh nghiệp. Tâm địa hẹp hòi của những kẻ làm công tác tổ chức đã hình thành nên một bộ khung lãnh đạo cấp dưới hoàn toàn thụ động lười suy nghĩ thiếu sáng tạo thích cầm tay chỉ việc. Binh tướng dưới quyền chỉ biết "vâng dạ" suốt đời để cầu an giữ phận lấy đâu ra việc xoay chuyển tình thế để cứu doanh nghiệp thoát khỏi bờ vực của sự phá sản.
         
David Ogilvy một trong những bậc thầy về sáng tạo trong thế giới quảng cáo khuyên rằng: "Luôn thuê những người giỏi hơn !". Triết lý kinh doanh của ông đã được các doanh nghiệp nước ngoài áp dụng triệt để. Trong công ty luôn xuất hiện những người giỏi: Giỏi viết bài phát biểu giỏi xây dựng một nhóm làm việc biết cách kiên nhẫn để huấn luyện một thành viên khác trong nhóm về một kỹ năng mới. Nếu bạn luôn thuê những người giỏi hơn bạn trong lĩnh vực quan trọng bạn sẽ xây dựng được một tổ chức rất mạnh. Vì vậy hãy thuê những người giỏi và để họ làm việc với bạn dù phải tốn rất nhiều tiền.
         
Thời Tam Quốc Gia Cát Lượng là một bậc kỳ tài. Nguỵ Diên là viên tướng dũng mãnh hơn người có hiểu chút ít mưu lược song tính tự phụ và không hoà nhập với mọi người. Hơn nữa có tin đồn rằng Nguỵ Diên "có tướng phản nghịch tâm địa mập mờ". Gia Cát Lượng không hề nao lòng bởi những lời đồn đại đó con mắt tinh đời của ông nhận ra đây là một nhân tài và mạnh dạn trọng dụng lần lượt đề bạt lên tới chức Nam Trịnh Hầu. Nguỵ Diên không phụ lòng Gia Cát Lượng lập rất nhiều chiến công trở thành viên tướng tài của nước Thục sau này. Còn Dương Nghi là người chuẩn bị quân lương phân phối quân nhu mỗi khi Gia Cát Lượng xuất quân. Tuy hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc song Dương Nghi tính tình hẹp hòi không biết khoan dung thường gây mâu thuẫn với Nguỵ Diên. Gia Cát Lượng không vì thế mà bỏ Nghi vì  tiếc tài năng hơn người của Nghi. Và  như  thế Gia Cát Lượng đã  sử dụng được cả tướng tài Nguỵ Diên lẫn Dương Nghi trong cuộc chiến bình thiên hạ.
         
Doanh nghiệp thành đạt thường có một đội ngũ lãnh đạo xông xáo và làm việc hiệu quả. Ông chủ quá thông minh đã biết "chọn giống" để xây dựng một đội ngũ hùng mạnh quanh mình nhằm thực hiện chiến lược trong ngôi nhà chung. Cái tôi của người lãnh đạo đã biến mất và còn lại đó là sự tâm phục khẩu phục của tất cả mọi người. Một lần trong khi phỏng vấn về quản trị nguồn nhân lực một doanh nhân rất thành công đã trả lời với các nhà báo: "Công việc hàng ngày của tôi là biết sử dụng những người giỏi hơn mình để thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình" 
         Không thích những kẻ giỏi hơn mình là sự u mê của tâm hồn và thiểu năng về trí tuệ !

More...