Một bài viết của bạn đọc trên blog

By Truong Van Khoa


         
         Có một bài viết về bài thơ: "Màu tím hoa sim" của một bạn đọc gởi đến cho bloger qua địa chỉ mail
truongvankhoavba@gmail.com . Lời văn chân tình lối tư duy và kiến thức văn học rất sâu sắc. Bloger xin trân trọng thông báo đến tất cả các bạn đọc trên mạng vnweblog này. Qua đây một lần nữa chúng ta lại thấy sức sống diệu kỳ của một áng thơ về một chuyện tình cảm động nhất thời chinh chiến. 

                           LỜI TƯỞNG NIỆM CHO BÀI THƠ MÀU TÍM...

         
         
         Một chiều hôm rất thực câu thơ bay về soi nỗi nhớ  lòng ta màu tím thủy chung ngập tràn trong mắt đánh thức cả nỗi nhớ và niềm đau vốn dĩ  đã ngủ quên trong mùa chinh chiến cũ. Ta chợt giật mình nhớ đến Hữu Loan - Người thơ xuất hiện giữa làng thơ Việt Nam hiện đại với một ấn tượng độc đáo trong Màu tím hoa sim Quách xuân kì Những làng đi qua Đèo cả Hoa lúa... để cái chân chất mộc mạc mà đẫm tình người cuốn hút tâm hồn bao thế hệ. Nhưng có lẽ thủy chung với thời gian và với trái tim người đọc nhất vẫn là "Màu tím hoa sim" - Bài thơ đã đứng vững hơn 50 năm được coi là là một trong 50 bài thơ hay nhất của một thế kỉ thi ca Việt Nam.

         Bài thơ tỏa rộng thấm sâu với giọng kể độc đáo của nhân vật trữ tình "tôi" - Chủ thể vừa nhập thân vừa phân thân để ngắm nghiệm nỗi đau của đời mình khi mất đi một phần của trái tim. Bài thơ có ba phần như trong trong cổ tích: gặp gỡ chia biệt đoàn viên nhưng chỉ có điều cảnh "đoàn viên" này "không có hậu" đau xót nhớ tiếc day dứt trong cõi nhớ - đúng hơn là cõi tưởng niệm sâu xa nên nỗi nhớ nỗi đau đã nhuộm tím cả cõi lòng trong "chiều hoang biền biệt" - sắc tím xuất hiện dày lên ở cuối trang thơ trong lời hát cô đơn não nuột...sắc màu ấy bay qua trái tim thành hình tượng để nhà thơ thủ thỉ tâm tình mà trao gửi một nỗi đau mất mát!

         Cả  bài thơ có thể coi là tiếng thơ khóc vợ thời hiện đại...những câu thơ viết trong đắng cay nhất đã đơm mùa quả ngọt theo khối chân tình mà thức dậy trong lòng người đọc. Bài thơ là một trang đời rất thực viết như rút trong tâm trí từng hình ảnh kỉ niệm và rút cả linh hồn để tìm gặp một linh hồn của người vợ trẻ vừa quá cố trong độ tuổi trăng tròn lẻ bởi " cưới nhau xong là đi". Câu chuyện tình đặc biệt trong chiến tranh khiến người chiến binh yêu thương cô thiếu nữ như "tình yêu em gái" trong những tháng ngày ở trong gia đình ấy; thế là từ tình nghĩa nặng sâu chuyển thành tình yêu vừa giản đơn vừa sâu sắc bởi dành ý niệm ấy cho trái tim cho lẽ sống nên:

         "Ngày hợp hôn

         nàng không đòi may áo mới

         Tôi mặc đồ quân nhân

         đôi giày đinh

         bết bùn đất hành quân

         Nàng cười xinh xinh

         Bên anh chàng độc đáo..."

         Các câu thơ buông lơi nhẹ nhàng như một khoảnh khắc hạnh phúc vừa mới đến với người quân nhân năm ấy. Ấm lòng yêu nhớ bởi nụ cười "xinh xinh" của người vợ hiền vừa mới thoáng niềm vui đã vội phải lên đường theo tiếng gọi của non sông. Người trai ấy ra đi nhưng chồng chất những niềm dự cảm về sự khốc liệt không hẹn trước mà thần chiến tranh gây ra - Sợ ngày về soi bóng trong nhau chỉ còn là sự đơn lẻ buồn thương xót xa bởi:

         "Lấy chồng thời chiến chinh

         Mấy người đi trở lại

         Lỡ khi mình không về

         thì thương

         người vợ chờ

         bé bỏng chiều quê...".

         Giọng điệu thơ đến đây trĩu nặng chất triết lí  về tình yêu thương về những nghiệt ngã  có thể đến bất cứ lúc nào bởi "Xưa nay chinh chiến mấy ai về!". Cõi lòng ấy nhiều yêu thương nhiều lo sợ nhiều xót xa bởi đất nước này đã quá nhiều hòn Vọng Phu sợ lại có thêm bóng dáng vợ hiền đắm trong chiều quê ngóng đợi chồng về nhưng biền biệt. Câu thơ giàu chất sống chất nhân văn đến vậy!

         Nỗi  đau hiện về và rơi xuống giữa trang thơ hụt hẫng với một từ "Nhưng" đầy đột ngột đau đớn nghịch lí hẫng hụt đến bàng hoàng. Không gian như im vắng xao xác trong buổi chiều hoàng hôn phủ mờ cả đôi mắt mẹ già và người thương - Sự phủ mờ của sương khói thời gian hay nước mắt khóc người thương bạc mệnh đã làm nên màu hoàng hôn hoang lạnh; ngày xưa chung bóng bây giờ lẻ loi:

         "Tôi về

         không gặp nàng

         Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

         chiếc binh hoa ngày cưới

         thành bình hương

         tàn lạnh vây quanh..."

         Triền thơ mang nỗi đau nhưng không giãi bày mà ngấm ngầm đưa ra bao nghịch lí. Tất cả vẫn là của ngày xưa với hình ảnh người mẹ yêu thương người chồng chung thủy bình hoa ngày cưới... nhưng duy chỉ có một điều không còn tồn tại đó là nàng - khoảng trời của tình yêu hạnh phúc bình yên đã mất đã vĩnh viễn lìa bỏ những người ở lại. Ám ảnh đau xót trong dự cảm chia phôi bỗng như chết điếng khi chiếc bình hoa rạng rỡ của ngày cưới thành bình hương tàn lạnh. Nỗi đau không nén nổi nơi cõi lòng đã tràn ra ngoại cảnh để những gì yêu thương hạnh phúc gắn bó trở thành những chia lìa vô nghĩa. Trong khói hương mờ phủ để bắt nhịp cầu đến hư vô hình ảnh người vợ hiền ngày nào hiển hiện bé bỏng mà linh thiêng ngọt ngào mà nhức nhối:

         "Tóc nàng xanh xanh

         ngắn chưa đầy búi

         Em ơi giây phút cuối

         Không được nghe nhau nói

         Không được nhìn nhau một lần"...

         
         
         Lời khóc vợ đến đây rõ ràng thống thiết khi đứng trước di ảnh của người xưa với tóc xanh ngắn chưa đầy búi...của một người son trẻ. Cấu trúc lặp "không được nghe nhau không được nhìn nhau..." như những tiếng nấc nghẹn ngào xót đắng căng trào tột độ và cách thổ lộ vì thế sâu lắng hơn như tâm tình gửi đến miền u linh xa thẳm.

         Từ  cuộc đời với bao nỗi đau nhân vật trữ  tình tìm về với kí ức đã qua một thời. Đoạn thơ mở ra với những từ "Ngày xưa" của một thời con gái hiền hòa: yêu hoa sim tím yêu chồng trong từng đêm khuya vá áo bóng đổ âm thầm chiu chắt tình yêu... Những kí ức ngọt ngào như xắn câu thơ ra chậm hơn xót xa hơn day dứt hơn để đọng lại là hình ảnh: "Nàng vá cho chồng tấm áo - ngày xưa...". Dấu lặng trong câu thơ như những điều không thể nói hết như một miền chung thủy của người vợ áo tím hút mãi hồn người chiến binh về phía bình yên ngọt ngào ấy!

         Người bạc mệnh đã ra đi khi đời còn hứa hẹn bao điều chưa nói hết người thơ đã nới rộng sự bàng hoàng nỗi đau thương xót nhớ ấy đến với những người anh người em của nàng. Cái chết đột ngột đến mức khiến những người anh "Biết em gái mất -  trước tin em lấy chồng"; khiến cho đứa em "ngỡ ngàng nhìn ảnh chị" bên mộ phần chân cỏ úa vàng một màu héo hon. Gió thu nhẹ như lòng người thoảng buồn cho cuộc đời một người con gái trẻ đẹp nhưng vắn số. Hụt hẫng chơi vơi cả nỗi lòng mây trắng!
         
Soi nỗi buồn trong tận trái tim côi trong câu hát giữa những ngày hành quân những chiều hành quân bỗng bắt gặp một màu tím ngẩn ngơ nao lòng của hoa sim. Màu hoa đã đánh thức những miền xa thẳm của kí ức trên xác hoa nghe kỉ niệm tím bầm trước vệt thời gian. Hình ảnh hoa sim đồi sim xuất hiện làm "tím chiều hoang biền biệt" đã trở thành không gian mênh mông ru buồn cho câu hát:

         "Áo anh sứt chỉ đường tà

         Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu..."

         Ý tứ của lời ca dao xưa vận vào thân phận người chiến binh hôm nay nghe xót xa rơi nước mắt. Xưa là giãi bày để nối một nhịp cầu yêu nay giãi bày để đi tìm ru lại kí ức của tình yêu người thương mà kí ức có bao giờ ngọt ngào? Kí ức thường đắng chát đơn côi! Lời thơ ý thơ đã khép nhưng bước chân dùng dằng thương nhớ lãng du qua những miền chinh chiến của người chiến binh "mồ côi vợ" ấy vẫn còn mải miết. Thể thơ tự do đã giúp "cái tôi" bứt phá và thể hiện mình cộng hưởng với hệ thống ngôn từ giản dị mềm mại đẹp mà buồn với nhiều tiếc nuối xót xa và mênh mông như một dải lụa mềm của kí ức chứa đầy hoài niệm nhớ thương đến khắc khoải trong lòng một người tình khóc một người tình. Tiếng nấc dài theo năm tháng!

         Dù mai sau sắc sim không còn tím nữa người ta vẫn tìm về với bài thơ để nương tựa như tìm đến hơi ấm tình người tình yêu. Từ một câu chuyện giữa đời thực cái riêng tư nhất của cõi lòng nhòe lẫn cùng khối chân tình sâu xa thi nhân đã biến khoảnh khắc đau thương ấy thành thông điệp chung thủy vĩnh hằng của nghệ thuật.  Với "Màu tím hoa sim" Hữu Loan đã để lại một dấu ấn phong cách độc đáo trong sự dồn nén giản dị mà sâu sắc; từng ý thơ cứ quấn riết lấy như lật lên cảm xúc người đọc. Sự sâu lắng cuốn hút mãnh liệt đến mức độc giả đã từng thêu dệt nên huyền thoại cho sự ra đời của bài thơ rằng nhà thơ sáng tác ngay tại mộ cô Ninh sau một hồi khóc thương vợ thống thiết. Nhà thơ đã chép bài thơ vào chiếc quạt giấy rồi để lại nhà người bạn ở Thị xã Thanh Hóa. Bạn ông đã chép lại và kể từ ngầy ấy nó mãi mãi phiêu lãng và nằm lại trong tim người đọc biết bao thế hệ với nhiều ánh nhìn riêng khác dành cho bài thơ. Sắc mùa chinh chiến đã trở thành sắc màu của tình yêu mà chiều dài của tháng năm làm cho bài thơ thêm lung linh ý vị sâu sắc của một miền hoài niệm buồn day dứt mãi trong tim. 
         Bài thơ ấy lời ca ấy đã làm cho tên tuổi của Hữu Loan bất tử cùng với thời gian.                             


More...

Thi sĩ Hữu Loan đã qua đời !

By Truong Van Khoa

            

                               (Thi sĩ Hữu Loan lúc 95 tuổi)
         Dường có một điều gì đó thuộc về tâm linh  2 ngày sau khi bloger post bài viết "Màu tím hoa sim bài thơ tình đau thương nhất thế kỷ"(16/03/2010) thi sĩ Hữu Loan đã ra đi mãi mãi. Ông mất lúc 19 giờ ngày 18 tháng 03 năm 2010 tại nhà riêng ở thôn Văn Hoàn xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hoá  hưởng thọ 95 tuổi.

         Với thông tin này bloger vô cùng thương tiếc và chia buồn đến tất cả các bạn đọc trên trang mạng vnweblogs này.

         Chúng ta hãy kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của cụ Nguyễn Hữu Loan nhà thơ tài hoa và bất hạnh người đã để lại những tác phẩm thi ca vô giá. Giờ đây thi sĩ Hữu Loan đã trở lại với người vợ yêu dấu Lê Đỗ Thị Ninh sau 62 năm  nghìn trùng xa cách (1948-2010).

         "Màu tím hoa sim" một lần nữa được đọc lên để những người ở lại không bao giờ quên được bài thơ tình hay nhất thế kỷ 20. Trong chiều hoang biền biệt trong nấm mộ bên kia đồi sim tím người đã nằm xuống chắc đã mãn nguyện.

"....Khi gió sớm thu về 
         cỏ vàng chân mộ chí 
         Chiều hành quân 
         Qua những đồi hoa sim 
         Những đồi hoa sim 
         những đồi hoa sim dài trong chiều không hết 
         Màu tím hoa sim 
         tím chiều hoang biền biệt ... "

         Cầu chúc cho hương hồn của ông được yên nghĩ nơi vĩnh hằng. 

         
                      (Nhà thơ Hữu Loan và nhạc sĩ Phạm Duy)




 

More...

"Màu tím hoa sim" bài thơ đau thương nhất thế kỷ !

By Truong Van Khoa


                                    (Nhà thơ Hữu Loan)         

         Một buổi chiều cuối tháng giêng. Cùng với vài người bạn chúng tôi  trở lại quê nhà. Trong ánh nắng đượm vàng cuối ngày bất chợt tôi nghe lại bài thơ "Màu tím hoa sim" của thi sĩ Hữu Loan. Với giọng khàn đục của một người đàn ông từng trải bài thơ được đọc lên chậm rãi
:

"Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những đứa em nàng
            Có em chưa biết nói ..."

Mọi người ngồi hôm ấy đều ngồi trầm ngâm xúc động.

Lâu lắm rồi hơn 60 năm kể từ ngày người vợ bé bỏng chiều quê của thi sĩ miền Nga Sơn - Thanh Hoá ra đi mãi mãi dể lại nỗi thương đau tận cùng của một cuộc tình định mệnh và đy nghiệt ngã. Tôi bồi hồi nhớ lại...


         Tình yêu thời chiến chinh

         
         Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan sinh ngày 14-6-1919 tại làng Vân Hoàn xã Nga Lĩnh huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa. 
         
Năm 24 tuổi Hữu Loan rời quê nhà lên Thanh Hóa dạy học. Lúc bấy giờ ở  Thanh Hóa có cửa hàng bán vải và bán sách của bà Tham Kỳ (tên thật là Đái Thị Ngọc Chất) vợ của ông Lê Đỗ Kỳ kỹ sư canh nông có thời làm Tổng Thanh tra Canh nông Đông Dương). Những ngày tháng xa quê Hữu Loan thường ghé lại quán xem và mua sách. 
         
Hữu Loan được ông bà Lê Đỗ Kỳ mời về dạy học. Gia đình ông bà có 3 người con trai sau này đều gia nhập quân đội :
         
"Nàng có ba người anh đi bộ đội 
         Những em nàng 
         Có em chưa biết nói 
         Khi tóc nàng xanh xanh ..."
         
Ngày ấy ông 26 tuổi đêm đầu tiên đến nhà bà Kỳ đã hạ sinh một đứa con gái cô bé ấy sau này mắt luôn mở to nhìn ông không dứt đó chính là cô em gái của cô Lê Đỗ Thị Ninh lúc đấy mới 10 tuổi. Hữu Loan và Ninh rất thân nhau ông xem cô như em gái và cô cũng rất quý mến ông :
         
"...Tôi người Vệ quốc quân 
         xa gia đình 
         Y
êu nàng như tình yêu em gái
         
Ngày hợp hôn 
         Nàng không đòi may áo mới..." 
         
Sau đó Hữu Loan rời Thanh Hóa lên Hà Nội thi Tú tài và đỗ hạng ưu người Pháp muốn mời Hữu Loan vào làm thư ký ở Phủ Toàn quyền với lương rất cao nhưng do không thích Pháp nên Hữu Loan quay trở lại nghề dạy học. Cô Ninh càng lớn càng nết na và  xinh đẹp một vẻ đẹp thánh thiện. Mặc dù gia đình rất giàu có  500 mẫu ruộng và gần năm chục người làm nhưng riêng quần áo của Hữu Loan cô không cho người làm đụng đến mà tự tay giặt ủi xếp và cất vào tủ. Bà Chất rất quý mến ông có ý định gả cô em gái xinh đẹp tên Nga cho ông nhưng  Nga lại không thích vương vấn chuyện đời mu ốn xuất gia theo đạo nên bà lại đổi ý gả con gái mình cho Hữu Loan. Ông nhớ lại : "Lúc đấy có bao giờ tôi nghĩ chuyện tình yêu với Ninh tôi hơn cô ấy đến 16 tuổi lại xem cô ấy như em gái nuôi"
         
Hữu Loan kể lần đầu tiên tôi tới nhà bà Chất phải gọi mãi cô bé Ninh mới chịu ra khoanh tay chào thầy miệng nói lí nhí:
         
-Em chào thầy ạ!
         
Chào xong cô bé bất ngờ mở to mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to đen láy tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là từ hôm ấy tôi dạy em đọc viết. Em là một cô bé thông minh ít nói và mỗi lần mở miệng là giống y như một "bà cụ". Có lần tôi kể chuyện này cho hai người anh của em nghe. Không ngờ câu đùa ấy đến tai em. Thế là em dỗi! Suốt một tuần liền em nằm lì ở buồng trong không chịu học hành. Trước đó hằng ngày em vẫn chăm sóc tôi một cách rất thầm kín. Lúc thì đặt vào góc mâm chỗ tôi ngồi ăn một vài quả ớt đỏ au em vừa hái ở vườn lúc thì quả chanh mọng nước... Những buổi trưa hè khi tôi ngủ trưa em lén lấy chiếc áo sơ mi trắng của tôi treo ở góc nhà đem ra giếng giặt".
         
Một hôm em nằng nặc đòi tôi đưa em lên khu rừng thông. Tôi sợ em lại dỗi nên đánh liều xin với ông bà  cho đưa em lên núi chơi. Xe kéo chạy chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc. Tôi đuổi theo em đến đứt cả hơi. Lên tới đỉnh đồi em ngồi xuống và bảo tôi: 
         
-Thầy ngồi xuống đi!
         
Tôi ngồi xuống bên em. Chúng tôi cứ ngồi như thế và im lặng bên nhau. Bất chợt em nhìn tôi rồi ngước mắt nhìn ra tít tận chân trời không hiểu lúc đó em nghĩ gì. Bỗng em hỏi tôi:
         
- Thầy có thích ăn sim không?
         
Tôi nhìn xuống sườn đồi tím ngắt một màu sim. Em đứng lên và đi xuống. Tôi mệt quá và nằm thiếp đi trên thảm cỏ... Khi tỉnh dậy tôi thấy em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen nhánh chín mọng. 
         
- Thầy ăn đi!
         
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ
         
-Ngọt quá ! 
         
Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì nhưng thú thật chưa bao giờ tôi được ăn những quả sim ngọt đến thế. Cứ thế chúng tôi ăn hết quả này tới quả khác. Tôi ngước nhìn em em cười. Hai hàm răng và đôi môi em đỏ tím hai bên má cũng đỏ tím một màu sim. Tôi phá lên cười em cũng cười theo...

         Hạnh phúc mong manh

         
         Hữu Loan hồi tưởng...
         
Cuối mùa đông năm ấy tôi lên đường đi kháng chiến làm Chính trị viên tiểu đoàn ở sư 304 của tướng Nguyễn Sơn.
         
Hôm tiễn tôi em cứ theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Lên đến bờ đê nhìn xuống đầu làng em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim vẫy tôi. Tôi lại đi và nhìn lại cho tới khi không còn nhìn thấy em nữa.
         
Những năm tháng ở chiến khu thỉnh thoảng tôi có nhận được tin tức từ quê lên tôi biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Chín năm sau tôi trở lại nhà... Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng tôi hỏi em hỏi rất nhiều nhưng em không nói chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn là cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em bây gi đã là một cô gái xinh đẹp. Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Đám cưới thật đơn sơ:
         
"...Tôi mặc đồ quân nhân 
         đôi giày đinh 
         bết bùn đất hành quân 
         Nàng cười xinh xinh 
         bên anh chồng độc đáo 
         Tôi ở đơn vị về 
         Cưới nhau xong là đi ..."
         
Hạnh phúc ngọt ngào. Hai tuần phép của tôi trôi đi nhanh quá ! 
         
Hôm tiễn tôi lên đường em vẫn đứng ở đầu làng nơi tám năm về trước em đã đứng. Chỉ có điều giờ đây em không còn là cô bé Ninh nữa mà đã là người bạn đời người vợ yêu quý của tôi. Tôi đi và quay đầu nhìn lại... Nếu như tám năm về trước khi nhìn lại  tôi chỉ cảm thấy cô quạnh một nỗi sầu man mác thì lần này tôi thực sự đau buồn. Đôi chân tôi  không đứng nỗi và em cũng như quỵ xuống. Tôi đâu ngờ đây là lần chia tay cuối cùng...

         
Dòng sông định mệnh

         
         Ngày 29/5/1948 một ngày định m
ệnh Ninh đưa quần áo ra giặt ở sông Chuồng (thuộc ấp Thị Long Nông Cống). Đoạn sông này gần đổ ra biển nên nước chảy xiết. Buổi trưa bà Chất rủ cô Ninh ra tắm nhưng cô đã tắm buổi sáng nên mang quần áo ra giặt. Đang giặt Ninh bỗng trượt chân chới với giữa dòng nước hung dữ bà mẹ quay lại chỉ thấy tóc con mình xõa trên mặt nước. Ba ngày sau rất kỳ lạ xác cô Ninh mới nổi lên không xa bến nước bao nhiêu trong khi nước ở nơi này chảy rất mạnh. Có người nói do cô bị kẹt ở dưới đáy có người bảo cô Ninh vương vấn gia đình nên không muốn đi xa... 
         
Ninh chết trong khi đang mặc chiếc áo màu tím. Dọc bờ sông dưới chân núi Nưa nơi cô chết cũng mọc đầy những hoa sim tím. Thấp thoáng những cánh quân đi qua những đồi sim bạt ngàn. Câu thơ bi hùng:
         
"...
Chiều hành quân
         Qua những đồi sim
         những đồi sim dài trong chiều không hết
         Màu tím hoa sim
         tím chiều hoang biền biệt
..."
         
Ba tháng sau Hữu Loan  nhận được tin dữ v qua đời. Ninh chết quá thảm thương. Ông chạy về đến nơi thì mọi việc đã xong. Mẹ ngồi khóc bên mộ con chiếc bình hoa trong ngày cưới được mọi người dùng làm bình hương để thờ tự:
         "...Chiếc bình hoa ngày cưới.
            
thành bình hương
         
Tàn lạnh vây quanh..."
         
Chiếc bình đặc biệt ấy ông Hữu Loan vẫn giữ đến tận bây giờ và được đặt trên bàn  thờ cô Ninh cùng với tấm ảnh cô chụp năm lên 10 tuổi. Vào một đêm mưa bão lớn nước tràn từ mái nhà xuống bàn thờ đã làm hỏng tấm ảnh duy nhất đó.
         Ba người anh của cô Ninh mà ông Hữu Loan đã dạy học và đựợc nhắc đến ở ngay đầu bài thơ lúc đấy đang ở chiến trường Đông Bắc. Không hiểu thư từ đi lại khó khăn hay sao mà họ nhận được thư báo tin em gái mất rồi ít lâu sau mới nhận được thư báo tin người em gái lấy chồng.
         
Rất ít ai biết được về ba người anh của Ninh người anh cả Lê Đỗ Khôi là Chính ủy tiểu đoàn hy sinh chỉ vài giờ trước khi trận Điện Biên Phủ kết thúc. Người thứ hai là Lê Đỗ Nguyên tức Trung tướng Phạm Đình Cư nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị còn người anh thứ ba là Lê Đỗ An tức Nguyễn Tiên Phong nguyên Bí thư Trung ương Đoàn - Phó Ban dân vận Trung ương.
         Trở về doanh trại với nỗi đau xé lòng Hữu Loan như người bị mất hồn. Trong nỗi đau tột cùng bài "Màu tím hoa sim" được viết ngay bên mộ vợ trên một cái quạt giấy. Bài thơ khóc vợ nổi tiếng của ông được chép tay nhau và lan truyền rất nhanh chóng trong quân đội theo suốt cuộc chiến tranh đầy máu lửa.
         
Mãi đến những năm 1993 ông thêm một đoạn ở cuối bài thơ. Gần 50 năm sau lời thơ của ông vẫn ai oán như xưa:
         
"...Ai hát
         vô tình hay ác ý với nhau
         Chiều hoang tím
         có chiều hoang biết
         Chiều hoang tím
         tím thêm màu da diết. ..
         nhìn áo rách vai
         tôi hát trong màu hoa:
         "Áo anh sứt chỉ đường tà
         Vợ anh mất sớm. ..!
         Màu tím hoa sim tím
         Tình tang lệ rớm. ..
         Ráng vàng ma và sừng rúc
         điệu quân hành
         Vang vọng chập chờn
         theo bóng những binh đoàn
         biền biệt hành binh
         vào thăm thẳm chiều hoang màu tím...
         Tôi ví vọng về đâu
         Tôi với vọng về đâu?
         - Áo anh nát chỉ dù. .. lâu!
         
Phần thêm vào một thời cũng gây xôn xao có những người thích phần thêm nhưng có người chỉ muốn bài thơ nguyên thủy đã ăn sâu vào tâm khảm. Hữu Loan giải thích rằng việc ông viết thêm chỉ để làm cho rõ thêm ý cuối bài.
         
Bài thơ đã được các nhạc sĩ miền Nam phổ nhạc. Phạm Duy nổi tiếng với bài "Áo anh sứt chỉ đường tà" còn Dzũng Chinh cũng đã phổ thành nhạc phẩm boléro "Những đồi hoa sim" Duy Khánh với bài "Màu tím hoa sim". Cho dù với  phong cách đối ngược nhau hoàn toàn các bản nhạc đều được rất đông người biết đến.
         
Khi người ta hỏi Hữu Loan rằng ông thích bài hát nào nhất trong số các  bản nhạc trên thì ông chỉ im lặng ánh mắt nhìn ra vườn hững hờ:
      
   
- Tôi không để ý chuyện người ta phổ nhạc tôi.
         
Bà Nhu người vợ sau của ông giải thích: 
     
    
- Ông ấy không thích bài nào cả   khi phổ nhạc người ta đổi lời mất mấy đoạn rồi.
         
Và như thế từ đó đến nay ông không bao giờ bước chân ra khỏi cổng nhà nữa. Mỗi ngày ông ra chiếc võng trong vườn nằm nhìn ngắm các cây cối xung quanh. Gần đây người con út của ông bắt đầu tìm cách sưu tầm lại các bài thơ còn thất lạc của ông cũng có người đưa trả lại nhưng chủ yếu do ông Hữu Loan nhớ ra và đọc lại. Không biết bao giờ tập thơ mới xuất bản và có kịp khi ông vẫn còn sống hay không nhưng tên tuổi Hữu Loan cũng vẫn gắn chặt với Màu tím hoa sim được xem như một trong những bài thơ tình đau thương nhất của thế kỷ 20.

         MÀU TÍM HOA SIM 

         Nàng có ba người anh đi bộ đội 
         Những em nàng 
         Có em chưa biết nói 
         Khi tóc nàng xanh xanh 

         Tôi người Vệ quốc quân 
         xa gia đình 
         Yêu nàng như tình yêu em gái 
         Ngày hợp hôn 
         nàng không đòi may áo mới 

         Tôi mặc đồ quân nhân 
         đôi giày đinh 
         bết bùn đất hành quân 
         Nàng cười xinh xinh 
         bên anh chồng độc đáo 
         Tôi ở đơn vị về 
         Cưới nhau xong là đi 
         Từ chiến khu xa 
         Nhớ về ái ngại 
         Lấy chồng thời chiến binh 
         Mấy người đi trở lại 
         Nhỡ khi mình không về 
         thì thương 
         người vợ chờ 
         bé bỏng chiều quê... 

         Nhưng không chết 
         người trai khói lửa 
         Mà chết 
         người gái nhỏ hậu phương 
         Tôi về 
         không gặp nàng 
         Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối 
         Chiếc bình hoa ngày cưới 
         thành bình hương 
         tàn lạnh vây quanh 

         Tóc nàng xanh xanh 
         ngắn chưa đầy búi 
         Em ơi giây phút cuối 
         không được nghe nhau nói 
         không được trông nhau một lần 

         Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím 
         áo nàng màu tím hoa sim 
         Ngày xưa 
         một mình đèn khuya 
         bóng nhỏ 
         Nàng vá cho chồng tấm áo 
         ngày xưa... 

         Một chiều rừng mưa 
         Ba người anh trên chiến trường đông bắc 
         Được tin em gái mất 
         trước tin em lấy chồng 
         Gió sớm thu về rờn rợn nước sông 
         Đứa em nhỏ lớn lên 
         Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị 
         Khi gió sớm thu về 
         cỏ vàng chân mộ chí 

         Chiều hành quân 
         Qua những đồi hoa sim 
         Những đồi hoa sim 
         những đồi hoa sim dài trong chiều không hết 
         Màu tím hoa sim 
         tím chiều hoang biền biệt 
         Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa 
         Áo anh sứt chỉ đường tà 
         Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu

Phần viết tiếp bài thơ của nhà thơ Hữu Loan 50 năm sau...

         "...Ai hát
         vô tình hay ác ý với nhau
         Chiều hoang tím
         có chiều hoang biết
         Chiều hoang tím
         tím thêm màu da diết. ..
         nhìn áo rách vai
         tôi hát trong màu hoa:
         "Áo anh sứt chỉ đường tà
         Vợ anh mất sớm. ..!
         Màu tím hoa sim tím
         Tình tang lệ rớm. ..
         
         Ráng vàng ma và sừng rúc
         điệu quân hành
         Vang vọng chập chờn
         theo bóng những binh đoàn
         biền biệt hành binh
         vào thăm thẳm chiều hoang màu tím...
         
         Tôi ví vọng về đâu
         Tôi với vọng về đâu?
         - Áo anh nát chỉ dù. .. lâu!
                                                                                                (Nguồn tổng hợp)

More...

Lời tiên tri huyền thoại Vanga và đại chiến thế giới lần thứ III vào năm 2010 ?

By Truong Van Khoa


           (Người đàn bà bóng đêm có lời tiên tri thần thánh)
         Có nhiều người không tin vào tiên đoán của những nhà tiên tri. Tuy nhiên người ta không thể làm ngơ khi những tiên đoán đó đã thành hiện thực. Vanga trở nên huyền thoại vì những tiên đoán "thần thánh
" của bà về những thảm họa toàn cầu:  Bùng nổ Đại chiến thế giới  lần
thứ II cải tổ kinh tế chính trị ở Liên bang Xô Viết cũ cái chết của công nương Diana vụ 11/9 của Mỹ chìm tàu ngầm nguyên tử Kursk của Nga...Độ chính xác của những lời tiên tri này khiến nhân loại phải giật mình hoài nghi: Liệu có thực sự tồn tại một thế lực siêu nhiên?

Hồi sinh ra từ cát bụi

Bà Vanga tên thật là Vagelia sinh ngày 31/1/1911 mất ngày 11/8/1996 và được hỏa táng tại nhà thờ Xanh Pét-ca. Suốt cuộc đời bà sống ẩn dật ở vùng hẻo lánh Kozhuth thuộc thành phố Petrich Bungary. Năm 12 tuổi một cơn lốc mạnh đã cuốn Vanga đi rất xa sau đó người ta đã tìm thấy cô gái nhỏ vẫn còn thoi thóp hơi thở nằm vùi lấp giữa bụi và đá hai hốc mắt chứa đầy cát. Kể từ đó Vanga làm bạn với bóng tối. Bà bắt đầu đưa ra những tiên đoán đầu tiên từ năm 16 tuổi. Vào thời điểm đó bà giúp cha mình tìm lại bầy cừu bị mất trộm bằng cách mô tả chi tiết khá chính xác về cái sân nơi bọn trộm cất giấu đàn gia súc. Tuy nhiên năng lực tiên tri của bà chỉ thật sự đạt đỉnh cao từ độ tuổi 30. Rất nhiều nhà lãnh đạo quốc gia từng tới thăm bà để xin những lời tiên tri và sự tham vấn trong số đó có cả  " kẻ huỷ  diệt" Adolf Hitler người ta nói rằng Hitler đã từng ghé thăm nhà Vanga và rời đi với gương mặt nặng trĩu.

Bí ẩn về một hành tinh lạ

Bà Vanga là người thất học không biết chữ không hề viết sách nói bằng giọng thổ ngữ rất khó nghe (những buổi truyền hình trực tiếp bằng tiếng Bungari về bà phải có phụ đề cho chính đồng bào của bà nghe) do đó những lời tiên tri của bà thường được những người giúp việc chuyển ngữ   những cuốn sách bí truyền về cuộc đời và những tiên đoán của Vanga đã được tập hợp và biên soạn lại.

Theo Vanga khả năng phi thường của bà liên quan đến sự hiện diện của những sinh vật vô hình dù bà không thể giải thích rõ ràng nguồn gốc của chúng. Những sinh vật đó cho bà thông tin về con người. Cuộc sống của tất cả mọi người đứng trước bà hiển hiện giống như những thước phim từ lúc sinh ra đến khi nằm xuống. Tuy nhiên bà không có quyền năng thay đổi số phận.

Giải thích về năng lực tiên tri siêu việt của mình bà nói rằng bà có được thông tin từ những hình nhân xa lạ tuy người thường không nhìn thấy được nhưng bà có thể giao tiếp với họ cho dù chính bà cũng không thể giải thích được nhiều về nguồn gốc của họ. Họ tới từ một thế giới khác hành tinh có tên gọi là Vamphim đó là một hành tinh thứ ba tính từ trái đất họ đã từng sống trên trái đất từ nhiều năm nay. Vanga thậm chí bảo rằng những người ngoài hành tinh đã đang sống trên trái đất từ rất lâu rồi họ dùng thứ ngôn ngữ Vamfirm. Điều này không ai có thể kiểm chứng tuy nhiên khả năng tiên tri của bà thì đã được chứng thực và đã khiến bà trở thành một nhân vật vô cùng đặc biệt.

Ngoài khả năng tiên tri bà còn có khả năng trị bệnh cho mọi người bằng thảo được. Theo bà mọi người nên điều trị bệnh tật bằng chính thảo dược có xung quanh họ. Bà cổ vũ việc tắm bằng nước thảo dược nhờ sự thẩm thấu của tinh dầu qua da. Bà không phản đối việc sử dụng thuốc tân dược nhưng cho rằng sự lạm dụng tân dược có hại bởi vì "chúng đóng các cánh cửa qua đó tự nhiên tái tạo lại sự cân bằng trong cơ thể nhờ thảo dược".

Vanga từng dự đoán về những đứa trẻ mới chào đời và cả những sinh linh chưa ra đời. Bà cũng tuyên bố rằng bà đang "nhìn thấy" và "nói chuyện" với những người đã chết cách đây hàng trăm năm. 
         
Những người theo Vanga tin rằng bà biết chính xác ngày chết của mình. Và chỉ không lâu trước ngày đó bà nói có một cô bé tóc vàng 10 tuổi sống ở Pháp sẽ thừa hưởng những khả năng trời phú của bà  loài người sẽ sớm tìm ra cô bé đó.

Những tiên tri nổi tiếng trong quá kh

Lời tiên tri nổi tiếng nhất diễn ra năm 1980 khi bà khẳng định: "Trên ngưỡng cửa thiên niên kỷ vào tháng 8/1999 hoặc năm 2000 Krusk sẽ ngập chìm trong nước cả thế giới sẽ đau buồn về điều này". Rất ít người nhớ tới những câu nói định mệnh đó phải đợi 20 năm sau đúng vào tháng 8/2000 thế giới ngỡ ngàng trước việc tàu ngầm hạt nhân Krusk  của Nga bị chìm tại biển Bắc toàn bộ thủy thủ đoàn bỏ mạng dưới đáy đại dương Kỳ lạ thay con tàu xấu số được đặt theo chính tên thành phố Krusk.

Năm 1989 bà nói: "Kinh hoàng kinh hoàng! Những người anh em Mỹ ngã xuống vì bị các con chim sắt tấn công. Lũ sói đang tru lên trong bụi cây còn máu của những người vô tội đang chảy". Nếu lực lượng an ninh của Mỹ lưu ý tới những lời này họ có thể thấy trước thảm họa 11/9: Tòa tháp đôi (song sinh hay những người anh em) bị máy bay (chim sắt) đâm vào và tên của Tổng thống Mỹ khi đó là Bush (tiếng Anh có nghĩa là bụi cây).

Về sự trỗi dậy của nước Nga tháng 01/1988 bà tiên đoán: "Chúng ta chứng kiến sự kiện cực kỳ quan trọng:  Hai nhà lãnh đạo lớn bắt tay nhau. Nhưng chúng ta phải đợi khá lâu trước khi thứ Tám lộ diện và ký kết thỏa thuận về trái đất". Thực tế diễn ra đúng như vậy: Goóc-ba-chốp và Rêi-gân đã bắt tay nhau nhưng phải đợi tới khi nước Nga trở thành cường quốc tham gia nhóm G7 để biến nó thành G8 (thứ Tám) và can dự sâu hơn vào tiến trình chiến tranh hay hòa bình trên trái đất.

Lời tiên đoán kinh hoàng về tương lai !



         Các chuyên gia thấy rằng nhà tiên tri huyền thoại này đã đưa ra những cảnh báo chính xác về các sự kiện liên quan đến căng thẳng vũ trang ở Nam Ossetia. Vanga nói chiến tranh thế giới thứ ba là hệ quả tất yếu của sự đấu tranh sinh tồn giữa bốn người đứng đầu các chính phủ và sự xung đột của những người theo đạo Hindu. Nhân loại liệu có đứng trước một thảm họa nữa không khi Vanga dự đoán chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ nổ ra vào năm 2010.

Theo lời của Vanga trong tương lai không xa sẽ xảy ra các vụ mưu sát 4 nhà lãnh đạo chính phủ. Những cuộc xung đột ở Indostan (phần đất ở Nam Á bao gồm Ấn Độ Afghanistan Pakistan Trung Quốc Tây Tạng) sẽ là một trong những nguyên nhân chính mở màn cho cuộc chiến tranh thế giới thứ 3.
         Năm 2010 - Năm bắt đầu cuộc chiến tranh thế giới thứ 3. Cuộc chiến tranh này sẽ bắt đầu vào tháng 11/2010 và kết thúc vào tháng 10/2014. Ban đầu cuộc chiến tranh diễn ra bình thường tiếp đó sẽ xuất hiện hàng loạt vũ khí hạt nhân và cuối cùng là vũ khí hóa học.
         Năm 2011
- Không một loài động vật thực vật nào ở Bắc bán cầu có thể sống được do kết quả của quá trình lắng cặn chất phóng xạ. Tiếp đó những người Hồi giáo (người theo Đạo Hồi) sẽ bắt đầu một cuộc chiến tranh hóa học chống lại người Châu Âu.
         Năm 2014
- Phần lớn loài người sẽ bị mắc chứng bệnh mưng mủ ung thư da và các loại bệnh khác về da do hậu quả cuộc chiến tranh hóa học.
         Năm 2016
- Châu Âu gần như không có người sinh sống.
         Năm 2018 - Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc thế giới mới. Những nước phát triển sẽ trở thành kẻ bóc lột các nước khác từ việc khai thác các nguồn tài nguyên khoáng sản.
         Năm 2023 - Quỹ đạo Trái đất thay đổi.
         Năm 2025 -
Xuất hiện một bộ phận nhỏ người di cư đến Châu Âu.
         Năm 2028
- Loài người sẽ tạo ra một nguồn năng lượng mới kiểm soát được các phản ứng nhiệt hạch và nạn đói dần dần được khắc phục. Cũng trong thời gian này con tàu vũ trụ có người lái lần đầu tiên sẽ đổ bộ lên sao Kim.
         Năm 2033
- Băng ở các vùng cực sẽ tan chảy. Mực nước ở Thái Bình Dương sẽ dâng cao.
         Năm 2043 - Nền kinh tế thế giới phát triển rất phồn thịnh. Người Hồi giáo sẽ cai trị toàn bộ lãnh thổ Châu Âu.
         Năm 2046
- Bất kỳ cơ quan nào trong cơ thể người điều có thể được tiến hành cấy ghép. Việc thay thế các cơ quan trong cơ thể sẽ trở thành một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu nhất.
         Năm 2066 - Trong lúc tấn công thành Roma của người hồi giáo Mỹ sẽ lợi dụng một loại hình vũ khí mới - vũ khí thời tiết. Trong thời gian này trời trở lạnh đột ngột.
         Năm 2076 - Xã hội không giai cấp hay còn gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hình thành.
         Năm 2084
- Loài người Sẽ khôi phục lại thiên nhiên.
         Năm 2088
- Xuất hiện một căn bệnh lạ "lão hóa chỉ trong vài giây!!!".
         Năm 2097
- Căn bệnh lão hóa khủng khiếp này sẽ lan tràn trên toàn cầu.
         Năm 2100
- Loài người sẽ tạo ra những mặt trời nhân tạo chiếu sáng phần tối của quả đất.
         Năm 2111
- Con người sẽ trở nên kiệt sức.
         Năm 2123 - sẽ xảy ra các cuộc chiến tranh giữa những nước nhỏ.
         Năm 2125 - Tại Hung-ga-ri người ta sẽ nhận được những tín hiệu lạ từ vũ trụ. Cùng thời gian này loài người lại một lần nữa tưởng nhớ về nữ tiên tri Vanga.
         Năm 2130
- Nhiều vùng đất sẽ bị ngập trong nước.
         Năm 2164 - Con người sẽ biến thành một loài động vật kinh dị (nửa người nửa thú).
         Năm 2167
- Xuất hiện tôn giáo mới.
         Năm 2170
- Xảy ra một đợt hạn hán kéo dài trên Trái đất.
         Năm 2187 - Hai miệng núi lửa lớn nhất thế giới sẽ ngừng quá trình phun trào nham thạch.
         Năm 2195 - Những quốc gia dọc bờ biển sẽ trở nên khá giả cả về năng lượng lẫn lương thực.
         Năm 2196 - Người Châu Á và Châu Âu sẽ sinh sống trà trộn nhau.
         Năm 2201 - Quá trình phản ứng nhiệt hạch trên Mặt trời sẽ chấm dứt và bắt đầu thời kỳ nguội lạnh.
         Năm 2221 - Trong quá trình tìm kiếm sự sống ngoài Trái đất loài người sẽ có cuộc chạm trán rùng rợn.
         Năm 2256
- Tàu vũ trụ mang một căn bệnh khủng khiếp về Trái đất.
         Năm 2262 - Quỹ đạo của các hành tinh dần bị thay đổi. Cũng thời gian này sao Chổi sẽ đe dọa đến sự sống còn của sao Hỏa.
         Năm 2271
- Các hằng số vật lý lại một lần nữa bị thay đổi.
         Năm 2273
- Xảy ra sự xáo trộn giữa các chủng tộc da màu: da vàng da trắng và da đen. Tiếp đó sẽ xuất hiện các chủng tộc mới.
         Năm 2279
- Loài người sẽ lấy năng lượng từ khoảng chân không hoặc từ những lỗ đen.
         Năm 2288
- Xuất hiện những cuộc va chạm với người ngoài hành tinh.
         Năm 2291
- Mặt trời trở nên nguội lạnh và sau đó lại bùng cháy trở lại.
         Năm 2296
- Mặt trời hoạt động mạnh hơn lực hút vũ trụ bị thay đổi làm cho các trạm vũ trụ và vệ tinh rơi vào tình trạng hỗn loạn mất phương hướng.
         Năm 2299 - Tại Pháp xuất hiện một Đảng mới chống lại người theo Đạo hồi.
         Năm 2302 - Phát hiện quy luật và bí mật mới của vũ trụ.
         Năm 2304 - Khám phá bí mật Mặt trăng
         Năm 2341 - Xuất hiện một thiên thể vô cùng nguy hiểm tiến gần Trái đất.
         Năm 2354 - Một trong những mặt trời nhân tạo bị hỏng kết quả dẫn tới đợt hạn hán kéo dài.
         Năm 2371 - Xảy ra nạn đói lớn.
         Năm 2378
- Các bộ tộc mới nhanh chóng được hình thành.
         Năm 2480 - Hai mặt trời nhân tạo va vào nhau Trái đất bị rơi vào tình trạng hỗn loạn.
         Năm 3005
- Xuất hiện các "cuộc chiến" mới trên sao Hỏa quỹ đạo của các hành tinh bị rối loạn.
         Năm 3010
- Sao chổi sẽ va vào Mặt trăng quanh Trái đất lúc này xuất hiện một vành đai toàn đá và bụi.
         Năm 3797
- Đây là thời kỳ kết thúc sự sống trên Trái đất. Thời gian này cũng là cơ sở để loài người bắt đầu cuộc sống mới trên một "hệ Mặt trời" khác.

Nhiều lời tiên tri của bà liên quan tới xung đột vũ trang tại Nam Ossetia và trong thế giới của những người Hindu những vụ mưu sát các nhà lãnh đạo các quốc gia... để rồi dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ 3 sẽ xảy ra vào năm... 2010! Có lẽ chúng ta cần quan tâm hơn tới những lời tiên tri của người đàn bà mù quá cố ít nhất là để tránh cho trái đất khỏi những thảm họa do chính con người gây ra.

(Nguồn: pravda.ru)

More...

Những câu chuyện cảm động về Phụ nữ

By Truong Van Khoa


         Có những câu chuyện khi đọc lên lòng ta cảm thấy nao nao và xót xa nhất là vào những lúc người ta đang chuẩn bị rộn ràng cho ngày mùng 8/3 (Ngày Quốc tế Phụ nữ). Trong hạnh phúc ngập tràn của ngày Lễ vinh danh này  chúng ta thường bắt gặp những thân phận phụ nữ cô đơn và nghèo khó. Cả một cuộc đời lầm lũi đơn độc người ta chỉ biết cho đi và không bao giờ mong được nhận lại. Sự hy sinh sáng ngời và thơm thảo của họ là ánh sáng huyền diều sưởi ấm những tâm hồn còn vướng nặng những nỗi buồn trần thế: Đói kém thù hận chết chóc vong thân ...  


         Câu chuyện thứ 1:Mẹ đã lạnh hơn con lúc này phải không mẹ?


         Vào một đêm Giáng sinh một thiếu phụ mang thai lần bước đến nhà một người bạn nhờ giúp đỡ. Con đường ngắn dẫn đến nhà người bạn có một con mương sâu với cây cầu bắc ngang. Người thiếu phụ trẻ bỗng trượt chân chúi về phía trước cơn đau đẻ quặn lên trong chị. Chị hiểu rằng mình không thể đi xa hơn được nữa. Chị bò phía bên dưới cầu.

Đơn độc giữa những chân cầu chị đã sinh ra một bé trai. Không có gì ngoài những chiếc áo bông dầy đang mặc chị lần lượt gỡ bỏ áo quần và quấn quanh mình đứa con bé xíu vòng từng vòng giống như một cái kén. Thế rồi tìm thấy được một miếng bao tải chị trùm vào người và kiệt sức bên cạnh con.

Sáng hôm sau một người phụ nữ lái xe đến gần chiếc cầu chiếc xe bỗng chết máy. Bước ra khỏi xe và băng qua cầu bà mẹ nghe một tiếng khóc yếu ớt bên dưới. Bà chui xuống cầu để tìm. Nơi đó bà nhìn thấy một đứa bé nhó xíu đói lả nhưng vẫn còn ấm còn người mẹ đã chết cóng.

Bà đem đứa bé về và nuôi dưỡng. Khi lớn lên cậu bé thường hay đòi mẹ nuôi kể lại câu chuyện đã tìm thấy mình. Vào một ngày Lễ Giáng sinh đó là sinh nhật lần thứ 12 cậu bé nhờ mẹ nuôi đưa đến mộ người mẹ tội nghiệp. Khi đến nơi cậu bảo mẹ nuôi đợi ở xa trong lúc cậu cầu nguyện. Cậu bé đứng cạnh ngôi mộ cúi đầu và khóc. Thế rồi cậu bắt đầu cởi quần áo. Bà mẹ nuôi đứng nhin sững sờ khi cậu bé lần lượt cởi bỏ tất cả và đặt lên mộ mẹ mình.

- Chắc là cậu sẽ không cởi bỏ tất cả bà mẹ nuôi nghĩ cậu sẽ lạnh cóng!

Song cậu bé đã tháo bỏ tất cả và đang run rẩy. Bà mẹ nuôi đến bên cạnh và bảo cậu bé mặc đồ trở lại. Bà nghe cậu bé gọi người mẹ mà cậu chưa bao giờ biết: "Mẹ đã lạnh hơn con lúc này phải không mẹ?"

Và cậu bé òa lên nức nở...


         2)Câu chuyện thứ 2: Mẹ tôi.
 


         
         Suốt thời gian thơ ấu và cả khi lớn lên lúc nào tôi cũng ghét mẹ tôi. Lý do chính có lẽ vì bà chỉ có một con mắt. Bà là lý do để bạn bè trong lớp chế giễu châm chọc tôi. Mẹ tôi làm nghề nấu ăn để nuôi tôi ăn học. Một lần bà đến trường để kiếm tôi làm tôi phát ngượng. Sao bà lại có thể làm như thế với tôi? Tôi lơ bà đi ném cho bà một cái nhìn đầy căm ghét rồi chạy biến. Ngày hôm sau một trong những đứa bạn học trong lớp la lên:" Ê tao thấy rồi. Mẹ mày chỉ có một mắt! ".

Tôi xấu hổ chỉ muốn chôn mình xuống đất. Tôi muốn bà biến khỏi cuộc đời tôi. Ngày hôm đó đi học về tôi nói thẳng: " Mẹ chỉ muốn biến con thành trò cười ". Mẹ tôi không nói gì. Còn tôi tôi chẳng để ý gì đến những lời nói đó vì lúc ấy lòng tôi tràn đầy sự giận dữ. Tôi chẳng để ý gì đến cảm xúc của mẹ. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi nhà không còn liên hệ gì với mẹ tôi. Vì thế tôi cố gắng học hành thật chăm chỉ và sau cùng tôi có được học bổng để đi Singapore.

Nhiều năm sau đó tôi lập gia đình mua nhà và có mấy đứa con. Vợ tôi là con nhà gia thế và danh giá. Tôi giấu nàng về bà mẹ của mình. Tôi nói mình mồ côi từ nhỏ. Tôi rất hài lòng với cuộc sống  vợ con và những tiện nghi vật chất tôi có được ở Singapore. Tôi mua cho mẹ một căn nhà nhỏ thỉnh thoảng lén vợ gửi một ít về biếu bà tự nhủ như thế là đầy đủ bổn phận. Tôi buộc mẹ không được liên hệ gì với tôi.

Một ngày kia mẹ bất chợt đến thăm. Nhiều năm rồi bà không gặp tôi thậm chí bà cũng chưa bao giờ nhìn thấy các cháu. Khi thấy bà già trông có vẻ lam lũ đứng trước cửa mấy đứa con tôi có đứa cười nhạo có đứa hoảng sợ. Tôi vừa giận vừa lo vợ tôi biết chuyện hét lên: "Sao bà dám đến đây làm con tôi sợ thế? Đi khỏi đây ngay! " Mẹ tôi chỉ nhỏ nhẹ trả lời: " Ô xin lỗi tôi nhầm địa chỉ! " và lặng lẽ quay đi. Tôi không thèm liên lạc với bà trong một khoảng thời gian dài. Hồi nhỏ mẹ đã làm con bị chúng bạn trêu chọc nhục nhã bây giờ mẹ còn định phá hỏng cuộc sống đang có của con hay sao?

Một hôm nhận được một lá thư mời họp của trường cũ gửi đến tận nhà tôi nói dối vợ là phải đi công tác. Sau buổi họp mặt tôi ghé qua căn nhà của mẹ vì tò mò hơn là muốn thăm mẹ. Mấy người hàng xóm nói rằng mẹ tôi đã mất vài ngày trước đó. Do không có thân nhân Sở an sinh xã hội đã lo mai táng chu đáo.

Tôi không nhỏ được lấy một giọt nước mắt. Họ trao lại cho tôi một lá thư mẹ để lại cho tôi:

" Con yêu quý !

Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con. Mẹ xin lỗi về việc đã dám qua Singapore bất ngờ và làm cho các cháu phải sợ hãi. Mẹ rất vui khi nghe nói con sắp về trường tham dự buổi họp mặt nhưng mẹ sợ mẹ không bước ra khỏi giường để đến đó nhìn con. Mẹ ân hận vì đã làm con xấu hổ với bạn bè trong suốt thời gian con đi học ở đây.

Con biết không hồi con còn nhỏ xíu con bị tai nạn và hỏng mất một bên mắt. Mẹ không thể ngồi yên nhìn con lớn lên mà chỉ có một mắt nên mẹ đã cho con một con mắt của mẹ. Mẹ đã bán tất cả những gì mẹ có để bác sĩ có thể thay mắt cho con nhưng chưa bao giờ mẹ hối hận về việc đó. Mẹ rất hãnh diện vì con đã nên người  mẹ kiêu hãnh vì những gì mẹ đã làm cho con. Con đã nhìn thấy cả một thế giới mới bằng con mắt của mẹ thay cho mẹ...

Mẹ yêu con lắm

Mẹ"

         3)Câu chuyện thứ 3: Bởi vì bà ấy là 1 người mẹ.
 


         
         Trên đường hành quân những người lính nhìn thấy 1 người phụ nữ bẻ miêng bánh mì thành những mãnh nhỏ và đưa cho những đứa con của mình.Chúng thèm thuồng ngấu nghiến những mẫu bánh mì đó.

- Bà ấy chẳng giữ lại gì cho mình cả -Người sĩ quan lẩm bẩm.

- Có lẽ vì bà ấy không đói - Một người lính nói.

- Bởi vì bà ấy là một người mẹ - Người sĩ quan trả lời

More...

Văn hóa lễ hội đi về đâu ?

By Truong Van Khoa

     

         (Ngày tận thế - Người đàn ông đang gào thét giữa đám đông chen nhau trong Lễ hội xin Ấn Đền Trần - Nguồn ảnh: Báo Tuổi Trẻ) 

         Người ta đi lễ có lẽ vì lòng tham nhiều hơn là sự tín ngưỡng.

         Điều nguyện ước đầu năm của một số đông là USD vàng và chức vụ. Nếu có một người đó cầu nguyện được thăng quan tiến chức thì việc này cũng đồng nghĩa với niềm hy vọng kiếm được nhiều các "đơn vị tiền tệ" chứ không phải là sự cống hiến phụng sự cho đất nước.

         Lòng tham. Vâng chính lòng tham đã biến tướng các lễ hội tại Việt Nam trở thành nơi buôn bán thánh thần. Không gian tĩnh lặng sự tôn nghiêm hàng nghìn năm đã trở nên chen lấn hỗn độn rác rưỡi ngập đầu vào những ngày lễ hội. Khi nhìn vào phóng sự ảnh trên các phương tiện thông tinm đại chúng người ta có cảm giác như xem những giây phút cuối cùng của  ngày tận thế !

         Người ta đổi chác chen chúc đút tiền vào những chỗ có thể "nhét" được trong những tượng Phật nhằm mưu cầu danh lợi. Có những kẻ đem những xấp tiền mặt mâm cao cỗ đầy "hối lộ" Quan Thánh mong ngài độ lượng "giáng phép" cho thoát nạn tù tội (do lỡ tay nhúng chàm ) các vị mù quáng đến mức cứ tưởng rằng thánh thần cũng như người trần có tiền là mua được tất cả thậm chí "cải hoán" được số mệnh của mình bước ra ngoài quy luật của muôn đời gieo nhân nào thì gặt quả đó.

         
                 (Người ta đang mua bán thánh thần - Nguổn ảnh: Báo Tuổi Trẻ)
         Họ chắp tay lên đầu để vái trong lời khấn là sự ích kỹ và lòng tham vô đáy USD được tính bằng đơn vị triệu vàng vay Bà Chúa Kho tới hàng ngàn cây chức vụ mơ đến cỡ Phó Tổng Giám đốc Thứ Bộ trưởng ...

         Tìm đâu thấy lời nguyện cầu cho đất nước được thanh bình ấm no và hạnh phúc ?

         Trong chừng mực nào đó văn hoá lễ hội đã mất đi sự kiểm soát các Ban quản lý tại các khu di tích tỏ ra quá nhu nhược yếu kém ...trong các khâu tổ chức. Nhìn những cái lắc đầu của khách du lịch nước ngoài trước một đám đông chen lấn đánh nhau gào thét lòng ta cảm thấy se lại và vô cùng xấu hổ. Chính chúng ta đã đánh mất những điều thiêng liêng nhất của cha ông để lại một đất nước được gọi là ngàn năm văn hiến.

         Có một quan điểm cho rằng mọi người cần được giáo dục về văn hoá lễ hội quá trình giáo dục cần phải thường xuyên bền bĩ và lâu dài. Tuy nhiên cái gốc của vấn đề không phải là bây giờ mới bắt đầu hay chúng ta chưa từng làm việc này. Tại sao cách đây hàng trăm năm với quốc phục chỉnh tề những người dân quê hành lễ tại các di tích lịch sử đền chùa .. một cách trang trọng cung kính. Ngày ấy người ta đau có cầu nguyện chức tước vàng bạc một cách hỗn độn chơ búa như bây giờ. Một nét văn hoá lễ hội xưa vô cùng đẹp và đáng quý !

         Có lẽ cần nhiều năm sau nữa con cháu mới bắt chước được những điều mà thế hệ cha ông đã từng làm cách đây hàng thế kỷ.

         Đã đến lúc những người có trách nhiệm hãy gióng lên hồi chuông cảnh báo cho văn hoá lễ hội tại Việt Nam. Với những hành động thiết thực cụ thể chúng ta cần sắp xếp quản lý để các ngày lễ hội trở nên quy cũ và nề nếp. Người dân sẽ cảm thấy dễ thở hơn trong những chuyến hành hương lễ hội và cầu nguyện.

         Đối với văn hoá tâm linh và tín ngưỡng ngày hôm nay chúng ta hãy cùng nhau cố gắng làm những điều tốt đẹp để con cháu đời sau khỏi phải khinh bỉ và noi gương.  

More...

Tất niên vnweblogs: Mùa xuân trong mắt em

By Truong Van Khoa


     
         Tôi viết những dòng này khi đất trời đã bước qua Tiết Lập Xuân. Hôm nay là 27 tháng Chạp. Một mùa xuân nữa lại đến. Nhanh quá ! 
         
Muốn khép một năm cũ cho trang blog nhưng lòng cứ đắn đo hoài bởi lẽ ở ngoài kia biết bao thân phận đang đón xuân trong tha hương cô đơn nghèo khó... Và như thế cuộc đời đã cho chúng ta quá nhiều niềm hạnh phúc nhưng cũng đem đến cho ta lắm nỗi bất hạnh. Trong những ngày cuối năm tôi muốn chia sẽ muốn những bloger hãy dừng chân một chút để cùng tâm sự với một người bạn đã từng xuất hiện với  những comment trên chính trang blog này.
         Trong
nỗi niềm rất chân thật  tác giả (xin được dấu tên) đã gởi riêng qua địa chỉ mail với 3 chủ đề ngắn: Xuân tha hương Tết quê và Xuân tự bao giờ. Bài viết đã đem đến cho chúng ta những cảm xúc thân thương của một cô gái đang sống xa quê hương khi mùa xuân về trên khắp mọi miền đất nước. Được sự cho phép của tác giả bloger xin được đặt tên riêng cho nội dung này: "Mùa xuân trong mắt em" và post lên trang mạng.            

         Xuân tha hương
         
Tuổi thơ. Có bao giờ em nghĩ rằng mình được đi xa đến như vậy? Thấm thoát đã 15 năm kể từ ngày em giã từ rơm rạ để đến mưu sinh ở xứ này.
         
Xa quê từ dạo ấy mỗi khi xuân về lòng em lại quay quắt nỗi nhớ quê hương.    
         
Năm nào cũng vậy ngày cuối năm ngồi nhìn những chuyến xe hối hả xuôi ngược hồn em lại lặng lẽ gởi thương nhớ về một làng quê xao xác đầy gió và nắng. Những ký ức hoài niệm lại tràn về trong nước mắt em: Tết quê nhà !
         
Sài gòn nắng nhiều lộng gió khiến em thèm cái nắng của mùa xuân quê hương. Nơi đó mẹ em tảo tần lam lũ luôn ngóng đợi các con về vui trong những ngày Tết bình dị. Em nhớ quá những mùa xuân yên bình bên gia đình thuở xưa.
         
Mẹ giờ đã thành núi thẳm sông sâu. Em chỉ có thể tìm đến bằng nhịp cầu của hư vô. Cha đã ra đi mãi mãi với những lo toan nhọc nhằn.
         
Đêm xuân Sài Gòn sâu tận cùng ký ức. Giữa chốn đô thành một mình em cảm thấy cô đơn và trống vắng. Em chỉ còn biết đón nhận hương vị Tết ngọt ngào bằng cách tìm về những kỷ niệm yêu thương niềm mơ ước bất tận của những mùa xuân xưa giữa xứ người.
         Ngày ấy sống trong tình thương bao la của cha mẹ em được biết rằng: Tết là sinh nhật chung để mỗi người thêm một tuổi một cách công bằng. Trong ấu thơ em rất thích ý niệm đó. Phải chăng để đón nhận giờ khắc thiêng liêng của giao thừa mọi người đều  rộn ràng nghênh xuân đợi tuổi ?

         (Em phải về hôm khác em viết tiếp)

         Tết quê
         
Quanh năm quê nhà yên bình. Khi xuân về khắp nơi lại rộn rã hân hoan đón chào một năm mới.
         
Tết ở phố thị ồn ào và tất bật dòng người đổ xô đi ngắm hoa hái lộc chọn mang về nhà. Tết tại quê nhà mọi người lại sung sướng ngắm hoa trái tự tay trồng và chăm bón. Những lộc non chồi biếc nụ mầm được nâng niu để đón chúa xuân về ngự trị.
         
Tết quê sáng ngời và thơm thảo. Người dân quê dành dụm và chắt chiu để có được những ngày xuân đầm ấm. Sáng mùng một trời sáng con cháu đi tảo mộ thắp hương ông bà. Những ngôi mộ dường như ấm lên sau mùa đông giá rét.  Mai trong vườn được chăm sóc và hái lá từ những ngày đầu tháng Chạp giờ đã nở hoa đúng ngày mùng một mào gà đỏ lay ơn căng nụ hoa hồng chúm chím...Tất cả đều tươi thắm như những cô gái đang khoe sắc khi mùa xuân về.
         
Tiễn ông Táo về trời vào ngày 23 tháng Chạp làng quê nao nức chuẩn bị đón xuân sang. Ngoài đình dân làng mổ lợn cười nói râm ran các câu chuyện vui. Mùi dưa hành bánh mứt thơm ngát. Hấp dẫn nhất vẫn là nồi bánh chưng được cho là biểu tượng của Tết quê nhà. Bánh chưng cầu mong sự đầy đủ no ấm hoà hợp giữa trời đất và lòng người. Những ngày giáp Tết cả nhà quây quần gói bánh nấu bánh. Những lá chuối non còn hương xuân phơi trong nắng vừa héo nếp cái hoa vàng hạt mẩy tròn ngâm kỹ và để ráo nước đậu xanh ngâm sẵn đãi vỏ cùng thịt lợn gia vị... Tất cả được gói trong những khuôn gỗ vuông vắn.  Ngày ấy em thường lân la ngồi cạnh lòng ngập tràn hạnh phúc khi được bà gói cho chiếc bánh chưng nho nhỏ xinh xắn để thưởng tuổi cho mình bà búi tóc trắng hoa cau cười hiền hoà thương yêu đàn cháu ngoan.
         
Khắp nơi từ ngõ đến góc vườn trong nhà đều được chúng em dọn dẹp sạch sẽ để đón chào năm mới. Chiều 30 cha dâng lên bàn thờ linh thiêng những hoa quả hai trong vườn bánh chưng xanh và đĩa trầu cau nguyện ước cho cho sự keo sơn thủy chung của gia đình. Tết đến thật sự khi cha mẹ cho mặc áo mới thắp hương lên bàn thờ mở đài đón giao thừa. Những bài thơ Tết được ngâm cùng với lời chúc thân thương đã đem cả trời xuân vào nhà với niềm vui cho một năm mới. Cha gọi chúng con đến mừng tuổi mùi nhang trầm quyện trong khoảnh khắc thiêng liêng chờ người xông đất đầu năm. Mọi người thức suốt đêm vì niềm vui Tết lòng hồi hộp chờ ngày mai theo cha mẹ đi lễ chùa thăm ông bà và chơi xuân. Trong đêm giao thừa lòng em chợt thấy nao nao vương vấn những ước nguyện đầu năm. Mùa xuân đến nhẹ nhàng và quấn quýt trong tim em.
         
Những ngày cuối năm em cảm thấy nhớ màu nắng tháng giêng ở quê đến cháy lòng. Em thèm được nghe tiếng sôi của nồi bánh chưng được nghe hương quê thì thầm trong đêm cuối năm. Em sợ hãi khoảnh khắc giao thừa tha hương. Em cũng sợ cả bao điều hối hả của cuộc sống hiện đại. Nơi đây mùa xuân về trong thoáng chốc. 
         
Bất chợt lòng em lại tự hỏi: Tết quê ! Bây giờ đang ở đâu?


         
         Xuân tự bao giờ ?
         
Đã nhiều lần đứng nhìn sắc hoa rực rỡ lòng em tự hỏi về nguồn cội của mùa xuân. Xuân đến từ đâu và đến tự bao giờ? Ngày xưa khi nhìn mẹ già nấu bánh chưng xanh thấy hoa mai nở ngoài vườn em hiểu rằng mùa xuân đã đến bên thềm... 
         
Thoáng chút xuân tươi ngời lên qua giọt nắng lung linh thi sĩ họ Hàn trong cơn đau tuyệt vọng nhìn sắc xuân ấm áp hoà quyện:

         Trong làn nắng ửng khói mơ tan

         Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

         Sột soạt gió trêu tà áo biêc

         Trên giàn thiên lý bóng xuân sang.
         
Giữa tiết xuân nồng nàn thời gian như trôi đi trên miền ký ức của xác hoa của những cơn mưa xuân thuở nào:
         
Bữa ấy mưa xuân phơi  phới bay 
         Hoa xoan lớp lớp rụng rơi đầy
         
Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ
         
Mẹ bảo: Thôn Đoài hát tối nay
         
Mùa xuân là mùa giao hoà của cỏ hoa tinh tế với cái lạnh tinh khôi của trời đất. Trong làn mưa bụi cỏ cây gặp lòng người mà xanh mãi trong niềm hân hoan tươi thắm. Giữa trời xuân tiếng chuông chùa trầm mịch rơi như điểm tô cho đất trời tiếng vọng thiêng liêng chút hương thiền của cuộc sống. Mai vàng trước cổng chùa khai sắc như món quà của vị thiền sư Mãn Giác dành cho dân tộc:  
         
Xuân khứ bách hoa lạc.
         Xuân đáo bách hoa khai 
         
Sự trục nhãn tiền quá
         
Lão tòng đầu thượng lai
         
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận 
         
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai"
         
Em tìm mùa xuân ở đâu ? Xung quanh hay chính tại lòng em? Dường như mùa xuân không thế giới không hạn định bởi nó ngập tràn trong không gian thời gian với  những nụ mầm chồi non và lộc biếc. Mùa xuân đã trở về từ trong cõi lòng và tình yêu. Sự sống toả sáng bát ngát cả đất trời trùng trùng thế giới theo cánh én của mùa xuân.
         
Đọc những trang thơ xuân của dân tộc em lại tìm thấy tuổi của nhân loại khi nhìn những mùa xuân qua đi. Cành mai vàng mấy nghìn năm lại sống dậy trong cõi lòng em chợt giật mình thổn thức:
         
"Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết.
         
Đêm qua sân trước một nhành mai".

More...

Những khúc xuân ca bất hủ !

By Truong Van Khoa

         Để khép lại chủ đề nhạc sĩ Phạm Đình Chương bloger xin phép thông báo đến các bạn trên mạng vnweblogs.com một tin vui những bài viết về ca khúc mùa xuân của Khoa đã được đăng trên các báo xuân năm nay:
         -
Bài viết: "Happy New Year và huyền thoại ABBA" được đăng trên giai phẩm xuân Canh Dần 2010 của Báo Du Lịch (trực thuộc Tổng Cục Du lịch Việt Nam).
         
- Bài viết "Ly rượu mừng khúc xuân ca bất hủ !" được đăng trên giai phẩm xuân Canh Dần 2010 của báo Doanh Nghiệp Chủ Nhật (trực thuộc Liên Minh Hợp Tác Xã Việt Nam). 
         Những tờ 
báo xuân phát hành rộng rãi trên toàn quốc để đến tay người đọc sớm trong mùa xuân này. Bài viết "Happy new year và huyền thoại ABBA" đã được post lên trang blog. Riêng bài viết mới "Ly rượu mừng khúc xuân ca bất hủ !" bloger xin phép post lại nguyên bản  để các bạn tham khảo hoặc dùng làm tư liệu. Xin cảm ơn !


         
         Hơn nữa thế kỷ đã trôi qua mỗi khi xuân về ca khúc "Ly rượu mừng" lại vang lên nghe rộn ràng xúc động lòng người. Trong sắc hoa tươi thắm trong dòng người nao nức của những ngày cuối năm chợt nghe giai điệu quen thuộc "Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi.." lòng ta lại cảm thấy nao nao tràn trề niềm hạnh phúc và hy vọng...


         Khi nói đến nhạc xuân chúng ta thường nhắc tới nhạc sĩ Phạm Đình Chương người được giới hâm mộ mang nợ nhiều nhất mỗi khi xuân về. Những ca khúc Ly rượu mừng Đón xuân Xuân tha hương .. của Phạm
Đình Chương đã để lại dấu ấn khá đậm trong làng âm nhạc Việt Nam vào những năm đầu của thập kỷ 60.


         Năm 1955 tại Sài Gòn theo đề  nghị của cụ Trần Văn Ân và nhà văn quá cố Nguyễn Đức Quỳnh Phạm Đình Chương đã viết bản nhạc này để đăng trên số Tết báo Đời
Mới.
Sự xuất hiện những người đẹp trong Ban hợp ca Thăng Long: Thái Thanh Thái Hằng và Khánh Ngọc trên trang bìa cùng với ca khúc bất hủ "Ly rượu mừng" đã làm cho giai phẩm Xuân Đời Mới lúc bấy giờ  "cháy số " và phải in thêm mới có đủ số lượng cho bạn đọc.


         Có thể nói rằng ca khúc Ly Rượu Mừng của Phạm Đình Chương
là một nhạc phẩm xuất sắc viết về mùa xuân của dân tộc và được nhiều người biết đến. Với những giai điệu hân hoan xuất thần cách sử dụng ca từ dân giã Phạm Đình Chương đã đưa chúng ta về một miền đất tươi sáng ấm áp và thanh bình:  


         "Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi 

Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi 

Người thương gia lợi tức 

Người công nhân ấm no 

Thoát ly đời gian lao nghèo khó       

Lời chúc Tết đã trở thành một truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam khi mùa xuân về trên khắp mọi miền đất nước. Những tầng lớp đại diện tiêu biểu nhất của nhân dân: Sĩ nông công thương được tôn vinh ngợi ca trong mùa xuân của dân tộc. Phạm Đình Chương rất giỏi khi biến tấu tất cả những lời chúc trở thành một giai điệu tràn trề yêu thương và nồng thắm:

Á a a a... Nhấp chén đầy vơi 

Chúc người người vui 

Á a a a...  Muôn lòng xao xuyến duyên đời...
Rót thêm tràn đầy chén quan san

Chúc người binh sĩ lên đàng 

Chiến đấu công thành 

Sáng cuộc đời lành 

Mừng người vì nước quên thân mình 

Nhớ những mùa xuân trước Tết đến chiều 30 tháng Chạp âm lịch trong từng mái nhà chúng ta thường ngồi bên mâm cơm cùng với gia đình thức đến tận nửa đêm để đón giao thừa. Trong tiếng guitar thùng bản nhạc "Ly rượu mừng" được cất lên trong đêm cuối năm. Những bạn bè quen cùng ngồi hát say sưa hát như chưa hề hát hát với tất cả tấm lòng yêu thương...

Kìa nơi xa xa có bà mẹ già 

Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa 

Chúc bà một sớm quê hương 

Bước con về hòa nỗi yêu thương 

Á a a a ... Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính 

Á a a a ... Chúc mẹ hiền dứt u tình 

Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương 

Xây tổ ấm trên cành yêu đương 

Nào cạn ly mừng người nghệ sĩ 

Tiếng thi ca nét chấm phá tô thêm đời mới 

            Đường nét của âm điệu (ligne melodique) cách thế hòa âm tiết điệu và bố cục từ khúc bản nhạc sang trọng nhưng gần gũi quý phái nhưng phù hợp với tâm hồn đại chúng. Tiếng gọi như thắm thiết níu kéo. Cả dân tộc cầu chúc cho đất nước hoà bình ngày ấy máu xương thôi rơi ngày ấy quê hương yên vui ngày ấy anh được về với người mẹ già với người vợ hiền đang mong đợi... Một mùa xuân thanh bình hạnh phúc sẽ đến với mọi người Việt Nam:

Bạn hỡi vang lên.

Lời ước thiêng liêng 

Chúc non sông hoà bình hoà bình 

Ngày máu xương thôi tuôn rơi 

Ngày ấy quê hương yên vui 

Đợi anh về trong chén tình đầy vơi 

Chúng ta hãy cùng nhấc cao ly rượu mừng cho đất nước thanh bình tự do chúc cho quê hương được yên vui mọi người đều chan hoà niềm hạnh phúc:

Nhấc cao ly này 
          Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do 
          Nước non thanh bình 
          Muôn người hạnh phúc chan hoà 
          Ước mơ hạnh phúc nơi nơi 
          Hương thanh bình dâng phơi phới"

Đã 55 năm trôi qua "Ly rượu mừng" vẫn có một sự sống diệu kỳ và còn nguyên những giá trị nhân bản. Trong âm vang phơi phới và ấm áp của mùa xuân đang về bản nhạc như thôi thúc cuốn hút chúng ta vào một ngày mai tươi sáng... 



More...

Ca khúc "Nửa hồn thương đau" và bi kịch của một gia đình

By Truong Van Khoa


                    (Ca sĩ kiêm diễn viên điện ảnh Khánh Ngọc)
        
        Vào những năm của thập kỷ 60 báo chí Sài Gòn xôn xao vụ ly dị của vợ chồng ca nhạc sĩ Phạm Đình Chương - Khánh Ngọc. Có thể nói rằng sự tan vỡ của một gia đình tiếng tăm thời bấy giờ được dư luận quy cho môt cuộc tình vụng trộm giữa ca sĩ Khánh Ngọc và  "tình địch" không ai chính là nhạc sĩ Phạm Duy. Nỗi đau dày xe tâm can và sự tan nát của một đai gia đình nghệ sĩ đã "đánh gục nhạc sĩ Phạm Đình Chương khi ông phát hiện ra vợ mình đã yêu người anh rể Phạm Duy. Hay nói cách khác rể và dâu trong một nhà đã đến với nhau vượt ra ngoài luân lý đạo thường vốn là một điều cấm kỵ trong văn hoá gia đình Việt Nam.

Ca sĩ Khánh ngọc với thân hình bốc lửa kiều diễm đã được nhiều người biết đến với biệt danh "ngọn núi lửa" cô đã từng làm chao đảo đắm say nhiều văn nghệ sĩ danh tiếng và khán giả nam rất ái mộ. Khánh Ngọc thành danh trong làng nhạc từ những năm giữa thập niên 1950 đến đầu thập niên 1960. Cô còn là một diễn viên điện ảnh nổi tiếng trước cả Kim Cương Thẩm Thúy Hằng Trang Thiên Kim Kiều Chinh...và  là một trong những ngôi sao thuộc thế hệ đầu tiên sáng chói trong làng điện ảnh Sài Gòn. Khánh Ngọc thường đóng cặp với nam tài tử Lê Quỳnh trong các bộ phim do người Mỹ thực hiện trước năm 1975 tại miền Nam Việt Nam.  

Năm 1961 Khánh Ngọc sang Hoa Kỳ để học thêm về ngành điện ảnh và gặp một du học sinh Việt Nam hai người đã kết hôn và có được ba người con. Hiện Khánh Ngọc sống với gia đình ở Los Angeles.

Nhờ khả năng diễn xuất của mình Khánh Ngọc trình bày những bản nhạc rất hấp dẫn. Khi hát bản "Cerisier Roses et Pommiers Blances" lời Việt vào câu đầu : "Vườn xuân ong bướm ngất ngây ngất ngây lòng ta..."  Khánh Ngọc lim dim mắt thở dài tay đè lên quả tim. Cô mở mắt liếc khán giả nở một nụ cười vừa lẳng lơ vừa khả  ái làm khán giả vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt...

Đớn đau thay cho Phạm Đình Chương người "si tình" và cũng "thành công" nhất trong việc chinh phục người đẹp chính là nhạc sĩ Phạm Duy.


                                      (Nhạc sĩ Phạm Duy)
        Trước khi đâm đơn ra toà Phạm Đình Chương đã nghe phong phanh dư luận. Với tình yêu nồng thắm buổi ban đầu ông không thể nào tin vào sự ngoại tình đã được đồn thổi. Điều thương tâm nhất là ông vẫn yêu thương tin tưởng vợ và bỏ ra ngoài tai những điều  không tốt lành của giới văn nghệ sĩ tại Sài Gòn. Và như thế vào một buổi tối định mệnh Phạm Đình Chương cùng với những người bạn thân "bắt tại trận" cuộc tình vụng trộm của đôi tình nhân tại quán chè ở Nhà Bè - Gia Định.

Trời đất như sụp đổ dưới chân người nhạc sĩ tài hoa anh gần như đứng không vững bạn bè dìu quay trở lại nhà nơi đứa con thơ dại đang ở nhà một mình ngóng chờ  ba mẹ về ...

Ngay lập tức sáng hôm sau một loạt bài phóng sự đều tra nóng bỏng của các báo được phát hành và "cháy số" đắt đỏ nhất là tờ "Nhật báo Sài Gòn mới" của bà Bút Trà. Vụ "ăn chè Nhà Bè" được tung ra với những hình ảnh rất "thời sự" của các thành viên trong gia đình Phạm Đình Chương.

Cả Sài Gòn gần như biết hết !

Cho dù Phạm Duy cầu cứu đến Bộ Thông Tin xin các báo cho ngưng các bài điều tra phóng sự nhưng "hoạ vô đơn chí" trong cuộc đời này cái gì càng dấu diếm bao nhiêu càng được "bùng nổ" và thêu dệt lên bấy nhiêu. Tan nát ! Không còn cách nào khác Phạm Đình Chương gạt nước mắt đau thương nộp đơn ly dị lên toà án. Vụ việc kết thúc và Phạm Đình Chương được quyền nuôi đứa con trai lúc bấy giờ khoảng 4-5 tuổi.

Trong đau khổ tột cùng không còn tâm trí nào để đi biểu diễn với các nghệ sĩ trong Ban hợp ca Thăng Long Phạm Đình Chương quay về sống đơn độc và ít giao thiệp với bên ngoài. Kể từ đó những bản tình ca bất hủ ra đời trong nước mắt trong thương đau vô bờ bến và những hoài niệm xót xa:  "Đêm cuối cùng" "Người đi qua đời tôi" "Khi cuộc tình đã chết" "Thuở ban đầu" "Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển"...

Một đêm mưa tầm tả ở Sài Gòn ông tình cgặp lại Khánh Ngọc trên một sân khấu Đại Nhạc Hội ông có nhã ý muốn đưa cô vợ đã li dị về nhà nhưng khốn thay ông bị từ chối. Trong mưa rơi ông lặng lẽ trở về căn nhà kỷ niệm một thời sống cùng Khánh Ngọc nhìn qua màn mưa trắng xoá nhớ về những ngày hạnh phúc giờ đang trôi theo dòng nước....  Phạm Đình Chương quyết định quyên sinh và giã từ cõi đời này nơi đã đem đến cho ông quá nhiều nỗi bất hạnh.

May thay tiếng khóc như xé lòng của đứa con trai đưa ông về hiện tại. Từ đáy tâm thức một lời nhắn nhủ khuyên ông hãy cố gắng sống tiếp quãng đời còn lại để nuôi đứa con thơ dại. Ông bừng tỉnh và từ bỏ ý định tự tử. Ngay đêm đó "Nửa hồn thương đau" được khai sinh ở ranh giới giữa sự sống và cái chết của người nhạc sĩ. Trong nước mắt thương đau sự rã rời tan nát của tâm can ngồi nhìn vầng trán thơ ngây của đứa con trai Phạm Đình Chương đã viết hết nốt nhạc cuối cùng của ca khúc bất hủ này.

Nếu đã một lần nghe bài hát này chúng ta sẽ hiểu được tâm hồn của con người chỉ có thể chịu đựng đến một giới hạn nhất định. Khi nhắc tới Phạm Đình Chương người ta lại nghĩ ngay đến "Nửa hồn thương đau" bởi trong ca khúc này là  sự chung thủy tuyệt vời của một người đàn ông.

        Gần 50 năm trôi qua trong góc khuất nào đó của cuộc đời nghe người em gái của ông ca sĩ Thái Thanh hát ca khúc này chúng ta mới thấy được nỗi đớn đau tột cùng của người nhạc sĩ tài hoa bất hạnh và đầy nhân cách này.


Nửa hồn thương đau


                       (Thơ Thanh Tâm Tuyền)
Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa.

Cho tôi về đường cũ nên thơ.

Cho tôi gặp người xưa ước mơ.

Hay chỉ là giấc mơ thôi.

Nghe tình đang chết trong tôi.

Nghe lòng tiếc nuối xót thương suốt đời
Nhắm mắt ôi sao nửa hồn bỗng thương đau.

Ôi sao ngàn trùng mãi xa nhau.

Hay ta còn hẹn nhau kiếp nào.

Em ở đâu?

Anh ở đâu?

Có chăng mưa sầu buồn đen mắt sâu
Nhắm mắt chỉ thấy một chân trời tím ngắt.

Chỉ thấy lòng nhớ nhung chất ngất.

Và tiếng hát và nước mắt.

Đôi khi anh muốn tin.

Đôi khi anh muốn tin.

Ôi những người ôi những người.

Khóc lẻ loi một mình...

More...

Phạm Đình Chương và ca khúc "Ly rượu mừng"

By Truong Van Khoa


 

Phạm Đình Chương (còn gọi là ca sĩ Hoài Bắc) sinh năm 1929 tại huyện Bạch Mai tỉnh Sơn Tây trong một gia đình mang huyết thống nghệ sĩ và có cuộc đời gắn bó cùng âm nhạc. Ông có người anh cùng cha khác mẹ là Phạm Đình Viêm (ca sĩ Hoài Trung) người chị ruột của ông tên Phạm Thị Quang Thái tức ca sĩ Thái Hằng (vợ nhạc sĩ Phạm Duy) người em gái của ông tên Phạm Thị Băng Thanh chính là nữ ca sĩ Thái Thanh vốn được mệnh danh là "tiếng hát vượt thời gian".

Ông được xem như là nhạc sĩ tiêu biểu của dòng nhạc tiền chiến một trong những tên tuổi lớn của nền tân nhạc Việt Nam với những ca khúc đầu tay xuất hiện kể từ năm 1947. Nói đến gia đình của Phạm Đình Chương người ta sẽ nghĩ ngay đến Ban hợp ca Thăng Long nổi tiếng thời bấy giờ bao gồm: Hoài Trung Phạm  Duy Thái Hằng Thái Thanh Khánh Ngọc (vợ Phạm Đình Chương) và Phạm Đình Chương linh hồn của Ban hợp ca Thăng Long.

Tuy xuất thân trong môi trường có đầy đủ điều kiện để được thụ huấn về âm nhạc nhưng trên thực tế Phạm Đình Chương đã đến với âm nhạc từ những nỗ lực tự học hỏi tìm hiểu bằng chính tâm hồn nhạy cảm của mình. Hầu như những sáng tác của ông đều chất chứa những đặc tính: Phiêu lãng và chân tình lãng mạn nhưng hiện thực và nhất là nét đằm thắm trữ tình đầy tình yêu quê hương con người và đất nước.

Năm 1951 ông cùng gia đình di cư vào miền Nam chính thức trở lại hoạt động văn nghệ qua việc tái lập Ban hợp ca Thăng Long gồm bản thân ông Hoài Trung cùng 2 chị em Thái Hằng và Thái Thanh. Trước đó nhóm nhạc này đã từng có những buổi trình diễn khi tham gia Ban văn nghệ quân đội Liên khu Bốn trong những ngày đầu tiên kháng chiến chống Pháp theo tiếng gọi của non sông

Nói đến Phạm Đình Chương chúng ta cũng không thể không nói đến lối sáng tác thiên tài của ông  các nhạc phẩm phổ thơ luôn lưu lại nhiều nét kỷ niệm sâu đậm trong lòng giới ái mộ như: Đôi Mắt Người Sơn Tây (thơ Quang Dũng) Nửa Hồn Thương Đau Đêm Màu Hồng Dạ Tâm Khúc (thơ Thanh Tâm Tuyền) Màu Kỷ Niệm (thơ Nguyên Sa) Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội (thơ Hoàng Anh Tuấn) Người Đi Qua Đời Tôi (thơ Trần Dạ Từ) Cho Một Thành Phố Mất Tên (thơ Hoàng Ngọc Ẩn ) Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn (thơ Du Tử Lê) v.v...

Riêng "Hội Trùng Dương" của Phạm Đình Chương được diễn tấu bởi dàn hợp xướng và dựa trên bố cục của nền nhạc hòa âm bởi dàn nhạc giao hưởng nên càng được phân tích rõ nét qua những đoạn nói về đặc tính từng dòng song từng khu vực địa lý một cách mạch lạc thông suốt. Nhìn lại "Hội Trùng Dương" chính là một  tác phẩm kết tinh tâm huyết tài hoa của Phạm Đình Chương và là một cống hiến lớn cho dòng nhạc tình ca quê hương Việt Nam.

Phạm Đình Chương đã hoàn thành sứ mạng nghệ thuật âm nhạc và ra đi vĩnh viễn vào ngày 22 tháng 8 năm 1991 tại California Hoa Kỳ.

Trong số các ca khúc của ông Ly Rượu Mừng là bài được hát được nhiều người biết đến. Năm 1955 tại Sài Gòn theo đề  nghị của cụ Trần Văn Ân và nhà văn quá cố Nguyễn Đức Quỳnh Phạm Đình Chương đã viết bản nhạc này và đã được đăng trên số Tết báo Đời Mới.


            Hơn một nữa thế kỷ trôi qua "Ly rượu mừng" vẫn có một sự sống diệu kỳ. Trong âm vang phơi phới và ấm áp của mùa xuân bản nhạc như thôi thúc cuốn hút chúng ta vào một ngày mai tươi sáng...
 

         "Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi 
         Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi 
         Người thương gia lợi tức 
         Người công nhân ấm no 
         Thoát ly đời gian lao nghèo khó 
         
Á a a a... Nhấp chén đầy vơi 
         Chúc người người vui 
         Á a a a...  Muôn lòng xao xuyến duyên đời.
         Rót thêm tràn đầy chén quan san 
        
 Chúc người binh sĩ lên đàng 
         Chiến đấu công thành 
         Sáng cuộc đời lành 
         Mừng người vì Nước quên thân mình 
         
Kìa nơi xa xa có bà mẹ già 
         Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa 
         Chúc bà một sớm quê hương 
         Bước con về hòa nỗi yêu thương 
         
Á a a a ... Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính 
         Á a a a ... Chúc mẹ hiền dứt u tình 
         
Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương 
         Xây tổ ấm trên cành yêu đương 
         Nào cạn ly mừng người nghệ sĩ 
         Tiếng thi ca nét chấm phá tô thêm đời mới 
         
Bạn hỡi vang lên 
         Lời ước thiêng liêng 
         Chúc non sông hoà bình hoà bình 
         Ngày máu xương thôi tuôn rơi 
         Ngày ấy quê hương yên vui 
         Đợi anh về trong chén tình đầy vơi 
         
Nhấc cao ly này 
         Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do 
         Nước non thanh bình 
         Muôn người hạnh phúc chan hoà 
         
Ước mơ hạnh phúc nơi nơi 
         Hương thanh bình dâng phơi phới"





More...